Hiển thị các bài đăng có nhãn Truyện ngắn. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Truyện ngắn. Hiển thị tất cả bài đăng

Nước mắt của những ngôi nhà

Cuối thu...

Sau cơn mưa buổi sáng... Không gian như dịu lại. Những tia nắng như cố hết sức mình giãn dần những mây đã có vả nặng nề, làm lộ rõ một khoảng trời trong xanh. Hơi mát ẩm và se lạnh của mùa thu thấm vào da thịt tôi. Tôi cảm thấy lòng lâng lâng một cảm xúc khó tả. Những tiếng ồn ào xung quanh tôi dường như hư ảo, xa xôi hơn. Lần đầu tiên tôi nghĩ đến sự tồn tại của tôi...


Tôi là một chiếc gương nhỏ người ta gắn lên tường trước cửa nhà. Tôi ở đó từ bao giờ? Để làm gì? Tôi cũng không biết nữa. Ngày ấy đã lâu lắm rồi. Ngày ngày, tôi ngắm nhìn đường phố. Ban đầu, tôi nhìn kỹ từng người, từng nét mặt, từng màu áo. Lâu rồi quen đi, tôi chỉ thấy có một dòng chuyển động qua mắt tôi: Những bánh xe to, tròn, lăn nhanh xen lẫn những bánh xe cũ kỹ, chậm chạp. Có loại xe hai bánh, có lại ba bánh, có lại bốn, có loại nhiều hơn nữa. Có loại êm ru, có loại nổ ròn rã, lại có loại kêu cót két mệt nhọc. Có loại bóng nhoáng, xanh đỏ đẹp mắt, có loại đã tróc nước sơn cũ kỹ. Kỳ lạ hơn cả là những bàn chân. Có loại bóng lộn, sang trọng, có loại nhọn hoắt, thanh nhã, có loại lại đen đủi, thô kệch. Có loại đạp vội vã, có loại lại tỏ ra thờ ơ, chậm chạp. Cứ thế, tất cả hoà vào nhau thành một dòng chảy chuyển động, ngày và đêm...

Ngày tháng trôi qua, hàng ngàn, hàng vạn, hàng triệu lớp người đã đi qua tôi. Tôi chào họ mà họ không nghe tiếng. Có lẽ ai cũng chỉ chú ý đến con đường trước mặt. Còn tôi, tôi mãi ở đó, nhìn và nghe tất cả...

Có lần, tôi thấy một cái bánh xe to đè lên một bánh xe nhỏ. Chiếc xe nhỏ ngã. Bàn chân đi giày sang trọng, bóng loáng còn đạp thêm cho cái cẳng chân gầy gò, đen đủi kia một cái cho nó nhớ đời. Đó là một ông cụ già. Hai bánh xe to ung dung ra đi. ông cụ từ đó mang nạng gỗ. Lần khác, tôi thấy sáu cái bánh xe to loạng choạng rồi bỗng nhiên rẽ ngoắt vào bên vỉa hè trước mặt tôi, đè lên hai bánh xe con tí. Cậu bé chết ngay. Người đàn bà goá ôm xác con ngất lịm. Chồng chị đã chết ở chiến trường, để lại cho chị một mụn con trai. Cháu đang học ở nhạc viện, lớp sáu. Chủ nhân của chiếc xe tải vừa trúng quả đậm, tay lái còn vương vất hơi men của chầu rượu khao thủ trưởng: Chiếc xe tải đi trái, nhưng hình như người ta lại cho là phải. Vụ kiện mười năm vẫn chưa giải quyết xong. Đâu như năm ngoái, chị goá kia được bồi thường hai trăm ngàn đồng. Hai trăm ngàn cho đứa con trai duy nhất!

Tôi cứ ở đây, chỉ biết nhìn, chỉ biết nghe, nhìn và nghe mãi. Những bánh xe cứ lăn. Những đôi chân cứ đạp. Những âm thanh ồn ào, ồn ào. Tôi cảm thấy rất mệt mỏi. Có lẽ tôi đã quá già chăng?

Cơn mưa đêm qua dường như đã làm nguôi vợi đi những ưu phiền trong lòng tôi. Bỗng tôi nghe thấy một tiếng cười lanh lảnh. âm thanh này rất lạ, khác hẳn với những âm thanh tôi đã từng nghe. Tôi như bừng tỉnh để trở về với nhiệm vụ duy nhất của đời tôi. Nhìn và nghe...

Trên hè phố có hai đôi chân. Không ai trong số họ đi xe. Họ hình như không vội, vì tiếng bước chân rất chậm rãi. Một đôi chân nhỏ nhắn đi giày thể thao rất xinh. Cậu bé có đôi mắt đen tròn rất thơ ngây. Một đôi chân kia cũng không lớn lắm, mang một đôi giày bộ đội đã sờn. Tiếng bước chân này tôi quen lắm, tôi cố nhớ mà không ra. Chợt tôi nghe cậu bé nói:

- ông ơi, hôm nay trời đẹp quá! ông cháu mình đi dạo thích quá!

- ừ! ông già trả lời. Đôi chân mang giày bộ đội đi hơi dò dẫm. Có lẽ mắt ông già đã hơi kém.

Hai ông cháu đi thong thả. Cậu bé thật đáng yêu làm sao? Cậu không nhìn ra đường phố xem những chiếc xe qua lại, mà quay nhìn vào ngôi nhà, nơi tôi được gắn ở đó. Cậu bé giật giật tay áo ông già, trong khi mắt cậu nhìn vào tôi:

- ông ơi! Người ta gắn gương vào trước cửa nhà làm gì? Nó ở đấy lâu chưa ạ? Sao người ta để cao thế, ai mà soi được hả ông?

- à, người ta đã gắn cái gương vào đó từ lâu lắm rồi. Hồi còn nhỏ như cháu, ông đã thấy chiếc gương ở đó rồi?

- à thì ra, chúng ta là bạn già với nhau cơ đấy! Tôi nghĩ bụng.

ông già thủng thẳng tiếp:

- Người ta gắn gương ở cửa không phải để soi, mà để trừ ma trừ tà, cháu ạ!

- Thế mà cháu lại nghĩ đó là mắt của ngôi nhà. ông nhìn mà xem, nó chớp chớp mắt kia kìa! Cậu bé nói.

- ừ!

- Cái mắt ấy mở suốt ngày đêm để nhìn ma quỷ và bọn trộm cắp. Nếu đứa nào có ý định giở trò gì, nó chớp mắt một cái là bọn nó chết ngay, ông nhỉ?

- ừ!

- Nhưng mà ông ơi, nó chẳng biết nói gì thì buồn lắm? Vì cứ nhìn mãi thì biết nhiều chuyện lắm. Biết mà không nói ra được thì khổ lắm ông nhỉ? Cậu bé lại níu áo ông.

- ừ? Đi thôi cháu! ông già cầm lấy tay cậu bé.

- ông ơi, khoan một tý thôi? Chắc là nó buồn lắm? Cháu thấy có nhiều giọt nước lăn trên mặt kính. Cái mắt đang khóc ông ạ!

- ừ! Giọng ông cụ hơi nghèn nghẹn.

Đột nhiên tôi rùng mình. Có những hạt nước to tướng làm mờ mặt kính vốn sáng bóng của tôi. Vâng, tôi đang khóc thực sự, nhưng không rõ là vui hay vì buồn. Trong cuộc đời làm gương trước cửa có lẽ đã ngót trăm năm ở đây, tôi chỉ nhìn, chỉ nghe, và chỉ có thế. Đây là lần đầu tiên tôi được người ta nhìn tôi, nói với tôi, và tôi thấy mình tồn tại trên thế gian này quả là không đến nỗi bỏ đi. Nhưng lạ kỳ thay, qua hàng nước mắt mờ mờ, tôi nhìn thấy hai giọt nước mắt đùng đục lăn chậm chạp từ nơi khoé mắt của ông già râu tóc bạc phơ kia. ông cũng đang khóc ?

Vào những buổi sáng cuối thu...

Sau cơn mưa...

Bạn hãy nhìn vào những chiếc gương nhỏ ở cửa các ngôi nhà, dù chỉ một lát thôi bạn sẽ thấy nước mắt của những ngôi nhà?


Nguyễn Mai Hồng

Chuyện riêng với bão

Gần hết giờ làm việc buổi chiều thì trời nổi gió. Hôm qua nàng nghe dự báo thời tiết là sẽ có bão, một cơn bão trái mùa. Trời âm u suốt từ sáng làm nàng đợi mãi. Nàng thích những cơn bão vào ban ngày hơn là vào đêm.

Tuy nhiên bão đêm cũng được. Ngắn gọn lại là nàng thích bão. Mọi người trong phòng vội vàng chuẩn bị áo mưa và về sớm. Còn nàng thì chẳng vội gì. Nàng có một lý do chính đáng để nói với mọi người: "Em không mang áo mưa và nhà em xa, sợ về không kịp".

Mọi người đã về hết, ai đó đã đóng cửa sổ: cả cửa kính và cửa chớp. Nàng nghe thấy tiếng gió vọng bên ngoài. Trong phòng kín như hòm nhưng nàng thấy hơi lạnh. Nàng mở cửa đi ra hành lang. Cả tầng hai không có một ai. Đến khi nàng mở cánh cửa ở đầu hồi khu nhà thì gió thốc vào. Nàng ngột thở nhưng vẫn cố đi ra và nhìn xuống đường. Trời tối sầm lại nhưng vẫn nhìn rõ mọi thứ. Gió thổi ào ào. Lá cây cũng rụng ào ào. Mọi thứ đều bị gió thổi. Gió làm quần áo nàng dính chặt vào người, tóc rối tung. Bụi đập vào mặt nàng rát như kim châm. Một tấm tôn ở mái bếp nhà nào bay xuống đường kêu rầm một cái, át cả tiếng gió. Rồi giấy vụn, quần áo và cả bụi nữa, tất cả nháo nhào trong không trung. Vẫn những cảnh của một cơn bão nhưng nàng thấy thật thích thú. Nàng nhớ đến tuổi thơ của mình. Hồi đó nhà nàng ở trong một khu chung cư. Mỗi lần có bão là nàng sẽ được nghỉ học. Nàng cũng sẽ cuống quít chạy theo bố mẹ để đóng cửa khi trời bắt đầu nổi gió. Sau đó nàng sẽ ngồi trên chiếc giường kê sát cửa sổ, quấn chiếc vỏ chăn quanh người, dán mắt vào cửa kính để xem thiên hạ vội vội vàng vàng, để xem gió bứt những tấm liếp trong chợ, tung lên rồi đập xuống, để xem mưa đổ xuống đường trắng xóa, để xem bọn trẻ con cởi trần tắm mưa. Thế nào nàng cũng đòi mẹ mở cửa để gió thổi vào nhà và thế nào mẹ cũng không đồng ý. Nàng sẽ giả vờ dỗi và ngồi xuống bậu cửa, giơ tay vào khe cửa để hứng gió, vì thế gió của bão bao giờ cũng chỉ đủ làm mát bàn tay nhỏ xíu của nàng khi đó mà thôi. Khi bão tan, nàng sẽ cùng bọn trẻ hàng xóm trốn mẹ xuống gác để lội bì bõm trong cái thứ nước bẩn mà bão làm dâng lên hoặc để thả thuyền giấy trong cái "hồ" ấy, thậm chí còn té vào nhau cái thứ nước ấy nữa. Bão của tuổi thơ thật tuyệt. Cô bé con là nàng khi đó chẳng bao giờ nghĩ đến giá gạo có tăng không, bao nhiêu ngôi nhà bị sập, bao nhiêu người bị chết. Sau này khi lớn lên một chút, có lần nàng nói với bố: "Con thích bão lắm bố ạ".

Bố nàng vội vàng: "ấy đừng con ạ! Bão thì người nông dân khổ lắm. Ông bà ở quê mất mùa đấy". Nàng ngúng nguẩy: "ứ ừ! Nhưng mà con vẫn thích bão". Rồi nàng lại nhớ đến cơn bão số 5 của mùa hè năm kia. Nàng nhớ rõ là cơn bão số 5, mà cũng là cơn bão lớn nhất trong năm bởi vì hôm đó cuộc thi chung kết Hoa hậu toàn quốc được tổ chức ở thành phố nàng. Biết rằng sẽ có bão nhưng nàng vẫn đi. Thực ra nàng cũng chẳng thích lắm các cuộc thi sắc đẹp nhưng cô bạn thân của nàng được ai cho một đôi vé, cứ rủ nàng đi bằng được. Ngồi trong nhà hát ấm áp ba tiếng đồng hồ, đến khi ra ngoài bất ngờ bị gió và mưa thốc vào mặt, ai cũng rét run. Hai đứa mang có một cái ô mà mười hai giờ đêm rồi thì còn núp ở đâu được. Cô bạn nàng cầm lái, còn nàng ngồi sau cầm ô che. Cái xe 50 của bạn nàng cứ ỳ ra trước gió, còn nàng cắn chặt răng vì rét, hai chân kẹp chặt vào xe, hai tay căng ra để giữ ô. ược một lúc thì tay chân mỏi nhừ, hàm cũng mỏi nhừ mà người thì ướt sạch. Nàng thu ô vào mà cảm thấy thật khó khăn. Hóa ra cán ô đã bị gió làm cong như hình cánh cung. Quả thật đấy là lần đầu tiên nàng đi trong mưa bão và cũng là lần đầu tiên nàng cảm thấy mình thật nhỏ nhoi.

Có vài hạt bụi bay vào mắt làm nàng bừng tỉnh. ưa tay lên dụi mắt xong thì trời đã bắt đầu mưa. Mưa hắt vào làm ướt mặt và tóc nàng. Mẹ mà ở đây thì mẹ sẽ bắt nàng vào nhà ngay lập tức. Nhưng mà mẹ lại đang ở nhà! Bất giác nàng mỉm cười sung sướng. Cuống lên về sớm thì có phải sẽ không được thoải mái thế này không! Trời vẫn chưa tối hẳn. Nàng đưa mắt nhìn sang bên kia đường. Đã có một đôi trai gái đứng tránh mưa ở đấy từ bao giờ. Gã trai đưa tay vuốt tóc cô gái và ôm lấy cô ta. Nàng chợt thấy khô cổ và bỗng thèm có một người đàn ông nào đấy đứng bên cạnh, ôm lấy nàng và cùng nhau ngắm mưa. Nàng chưa bao giờ được ở bên cạnh ai để ngắm mưa. Rất ít người biết sở thích này của nàng, mà có biết thì hoặc là mặc kệ, hoặc cho là nàng dở hơi. Nàng cảm thấy rất rõ tim mình nhói lên. Đôi trai gái kia yêu nhau lắm thì phải. Còn nàng thì không biết yêu. Nói chính xác là không biết yêu say đắm, không biết yêu hết mình. Chỉ những khi mưa to gió lớn thế này tim nàng mới mềm ra, còn không tình yêu say đắm đối với nàng thật sự chỉ là ảo tưởng mà những kẻ mù quáng nghĩ ra với nhau. Mà nàng cũng chẳng bao giờ tin rằng có ai đó yêu nàng say đắm cả. Nàng thật sự không hiểu tại sao người ta lại đắm đuối nhau, lại có thể chết vì nhau. Có người bảo nàng quá thực tế nên không thể yêu được. Nhưng nàng cũng yêu đấy chứ, nàng yêu chồng nàng, yêu như là số phận đã sắp đặt trước. Số phận cho nàng một gia đình hạnh phúc, bố mẹ cưng chiều, công ăn việc làm ổn định, thêm một ông chồng chiều nàng hết mực. Và chắc sau này sẽ là những đứa con ngoan. Nàng có được mọi thứ mà chẳng phải cố gắng gì. Nàng chẳng mơ cũng vẫn được những thứ mà người khác mơ ước. Có điều mà nàng mơ thì chẳng bao giờ thành hiện thực. Có người bảo nàng là lạnh lùng, khô khan và một loạt những tính từ đại loại như vậy. Có người bạn còn đùa rằng nàng là con người khô khan đến mức chỉ ăn cơm mà không ăn canh. Nàng mà khô khan ư? Cũng có thể. Nhưng những lúc thế này liệu có ai biết nàng mong muốn điều gì không? Nàng chợt rùng mình vì lạnh và cô độc. Nàng lắc đầu thật mạnh và tự bảo mình rằng xem bão thế đủ rồi, vào nhà cho ấm, đứng ở đây suy nghĩ lung tung làm gì cho mệt người.

Nàng quay về phòng, bước những bước thật dài. Và nàng bất ngờ đến giật mình khi thấy anh ta ngồi ở bàn làm việc. Trời mưa bão thế này không về với vợ con còn tỏ ra mẫn cán thế làm gì. Nàng mở cửa bước vào phòng và hỏi: "Ơ thế anh chưa về à?". "Tôi có chút việc đang làm dở. Em đi đâu về mà ướt thế kia?". Nàng cười không trả lời, lấy báo ra đọc. Mở tờ báo ra nhưng nghe tiếng ì ầm bên ngoài nàng lại muốn chạy đi. Ngồi đây chán chết, chẳng có tí lãng mạn nào! Anh ta lên tiếng: "Ra đây ngồi nói chuyện bé ơi! Tờ báo ấy hôm qua tôi thấy em đọc rồi mà, đọc làm gì kỹ thế". Nàng cười như bị bắt quả tang, nói lảng: "Anh xong việc rồi à?".

Câu chuyện lúc đầu hơi gượng ép, nhưng đến khi đề về thời sinh viên thì anh ta sôi nổi hẳn lên. Đôi lúc anh ta nhìn và nói với nàng thật dịu dàng. Nàng có cảm giác nàng đã làm anh ta nhớ đến ai đó trong quá khứ. Anh ta có một thời trai trẻ hào hoa, đa tài để mà nhớ, để mà tự hào. Còn nàng thì chẳng có gì để nhớ cả. Tất cả đều êm ấm, bình lặng như từ trước đến giờ thì liệu sau này bằng tuổi anh ta nàng có gì để kể đây? Chỉ có những cơn bão là làm khuấy động trời đất, khuấy động tâm hồn nàng, nhưng chẳng lẽ lại đi kể chuyện bão? Nàng chợt nhớ ra ngoài kia vẫn đang mưa. Nàng nghĩ giá mà anh ta là người tình của nàng thì nàng sẽ kéo anh ta ra ngoài mưa cùng với nàng ngay lập tức. Nhưng tất nhiên đó chỉ là tưởng tượng bởi vì nếu là người tình của anh ta thì hoặc là phải thông minh hơn nàng thật nhiều, hoặc là phải ngốc nghếch hơn nàng một chút. Hình như anh ta cũng có một cô "tình nhân bé nhỏ" ở đâu đó thì phải. Cô ta hay gọi điện thoại đến văn phòng vào lúc sáng sớm hoặc chiều muộn. Mỗi khi thấy anh ta hạ giọng và vui mừng: "Em đấy à?" thì nàng biết ngay là cô ta. Có đôi lần nàng đang ngồi trước mặt anh ta trao đổi công việc thì có điện thoại. Thường thì anh ta bảo: "Chút nữa anh gọi lại cho em nhé", nhưng cũng có lần anh ta mặc kệ nàng, xoay người qua hướng khác, tựa lưng vào ghế và thản nhiên nói chuyện làm nàng không còn cách nào hơn là đứng dậy. Những lúc như thế nàng rất muốn trêu anh ta vài câu nhưng ngay lập tức nàng lại nhớ ra vị trí của mình. Không hiểu sao những lúc ngồi nói chuyện phiếm với anh ta thì nàng hay quên mất điều đó nhưng khi nói chuyện công việc hoặc có ai đó nữa thì nàng ý thức rất rõ nàng phải vợ, chẳng phải tình nhân, chỉ là một nhân viên quèn, cấp dưới của anh ta và chẳng có ý nghĩa gì với anh ta để mà ghen tuông hay tức giận, nàng chỉ là kẻ mà thỉnh thoảng anh ta buông vài câu tán tỉnh vô thưởng vô phạt mà thôi. Anh ta là người thừa khôn ngoan để có thể vừa thương vợ quý con, vừa yêu một cô bồ trẻ trung xinh xắn lại vừa tán tỉnh vài cô ngu ngốc như nàng. ở bên anh ta, nàng luôn cảm thấy mất tự tin. Anh ta thông minh hơn nàng quá nhiều làm nàng lúc nào cũng nơm nớp sợ anh ta khiển trách, sợ anh ta chê mình ngu dốt. Mặc dù thế nàng vẫn thích được làm việc cùng anh ta vì nàng học được ở anh ta nhiều điều. Nàng biết đó chính là động lực khiến nàng cố gắng: không phải vì đồng lương, không phải vì danh vọng mà chính là vì nàng muốn một lúc nào đó nàng hoàn toàn tự tin trước anh ta. Bất giác nàng quay sang nhìn anh ta. Nàng thích khuôn mặt của anh ta khi nhìn nghiêng. Anh ta cũng quay sang nhìn nàng và lẩm bẩm một câu bằng tiếng Anh: "Tôi muốn hôn lên đôi môi em". Thế đấy, anh ta không bao giờ giấu giếm rằng nàng có đôi môi đẹp và anh ta rất muốn hôn đôi môi nàng nhưng chưa bao giờ anh ta nói rằng anh ta thích nàng cả. Nàng giả vờ ngạc nhiên: "Sao anh lại đùa thế?". Bất ngờ anh ta cười phá lên: "Em giống hệt cô bạn gái của tôi ngày xưa, cho dù tôi có nói thì nói thầm cô ấy cũng vẫn hiểu, còn những câu tôi nói rõ ràng mạch lạc thì lại chẳng hiểu gì cả". Nói xong anh ta lại cười. Nàng ngượng nhưng phải tự thú nhận rằng nàng rất thích tiếng cười của anh ta: tiếng cười thật vang, thoải mái, phóng khoáng và rất ngạo mạn. Có mấy ai cười được như anh ta?Tiếng chuông điện thoại cắt đứt câu chuyện. Ai gọi đến giờ này không biết! Nàng thấy anh ta nhấc máy và ừ ừ một hồi, quay sang nói với nàng: "Tôi về trước nhé, bà xã tôi mang áo mưa đến rồi".

Anh ta về. Nàng ngồi một mình, cảm thấy như bị bỏ rơi. Và nàng biết rất rõ tại sao nàng lại không chọn anh ta làm người tình. Nàng đã quen được đàn ông săn đón, chiều chuộng, mà đó lại chính là điều nàng không bao giờ nhận được từ anh ta. Trận mưa to năm ngoái, chồng nàng - khi đó mới là người yêu của nàng thôi - mang áo mưa đến cho nàng và đưa nàng về nhà. Bố mẹ nàng đã rất hài lòng vì cậu con rể tương lai chu đáo, thương vợ. Thế mà bây giờ đã hơn bảy giờ rồi vẫn không thấy tăm hơi đâu. Nàng nghĩ hay là chồng nàng cũng đang ướt như chuột lột ở đâu đó rồi. Nàng gọi điện đến công ty thì không có ai nghe máy, gọi điện về nhà thì "ông xã" hỏi luôn: "Em không về còn ở đấy làm gì? - Mưa á? Mưa thì mua áo mưa mà về chứ còn đợi gì nữa?". Nàng vâng gọn lỏn rồi cúp máy. Đây là lần đầu tiên từ khi cưới chồng nàng nói với nàng bằng cái giọng lạ lùng ấy. Nàng cảm thấy hơi thất vọng. "Hơi" thôi bởi vì trước khi cưới nàng đã được các bậc đàn chị đi trước cảnh báo về các ông chồng trong tương lai rồi và vì thế nàng đã chuẩn bị tinh thần từ trước là sẽ có lúc sẽ nhận được câu nói này. Nàng gọi điện cho bố. Bố nàng vẫn chưa về: "Bố đang định về đây, con chưa về à? - Không có áo mưa à? - Sao con không mua một bộ mà về? - Không chạy ra mà mua được à? Thế thì đợi chút nữa ngớt mưa rồi hãy về không ốm đấy! - à hay là con cứ ở đấy đi, tẹo nữa bố mang áo mưa đến cho. Bố có mỗi một bộ, bố ra kia mua cho con bộ nữa rồi hai bố con cùng về - ừ! ói hả! Hôm nay ở lại bố mẹ ăn cơm, bao giờ hết mưa nó sang đón rồi về. Thế nhé!". Nàng cúp máy và cảm thấy hạnh phúc lại tràn đầy. Nàng vừa hát vừa bật máy tính lên chơi điện tử. Vừa chơi được một lúc thì lại có điện thoại. Hay là ông chồng yêu quí của nàng nghĩ lại rồi không biết. Đầu dây đằng kia là một giọng đàn ông, không phải giọng chồng nàng, không phải giọng bố, mà là giọng anh ta: "Tôi mang áo mưa đến cho em nhé". Nàng từ chối và đột nhiên cảm thấy giận dữ. Anh ta làm như thế để làm gì cơ chứ. Anh ta biết thế nào nàng cũng từ chối còn giả vờ giả vĩnh làm gì. Nếu mà nàng có đồng ý thì anh ta cũng đâu có dám đội mưa mà mang áo đến cho nàng! Nàng biết anh ta lắm chứ. Thế rồi câu cuối cùng trong máy điện thoại là: "ừ thế thôi nhé, chút nữa tạnh mưa rồi hãy về. Hôn em thật nhiều!". Nàng nghĩ thầm: "Vâng thưa sếp, 12 giờ đêm mới tạnh mưa".

Nàng tiếp tục chơi điện tử nhưng không được tập trung lắm. Nàng nghe thấy tiếng mưa rơi bên ngoài liền mở cửa đi ra. Trời đã tối lắm rồi. Mưa to làm ánh đèn đường nhòe đi. Nàng lắng nghe tiếng mưa. Dường như mưa đã ngớt rồi thì phải. Nàng cảm thấy có ai đó gọi tên mình, lẫn trong mưa. Nàng chạy xuống mấy bậc cầu thang, ghé tai vào cửa sổ. Đúng là bố gọi rồi! Nàng chạy hai bậc một xuống tầng trệt. Bố nàng mặc áo mưa kín mít làm nàng thiếu chút nữa thì không nhận ra. Nàng nghe loáng thoáng tiếng bố lẫn trong tiếng mưa: "Mặc nhanh lên rồi hai bố con cùng về".

Mưa lại đổ xuống. Hai bố con mỗi người một xe. Nàng co hai chân lên, để số một và bắt đầu biểu diễn tài nghệ "tay lái lụa", khoái chí khi thấy nước bắn tung toé sang hai bên. Bố chắc không chịu nổi nửa bánh xe. Trời đã ngớt mưa nhưng nước thì chẳng rút đi chút nào, lại thêm đông người đi lại làm cho nước sóng sánh, chao đảo giống như khi nàng cho cái muôi vào nồi múc canh vậy. Nàng cười thầm cái tính háu ăn của mình. Gần tám giờ rồi còn gì nữa mà không đói! Bao nhiêu chủ đề thì cuối cùng cũng quay lại ăn uống thôi!

Mưa thưa dần. Gần về đến nhà thì bố bảo nàng: "Trời ngớt mưa rồi lại tiện quần áo, con đi về luôn đi kẻo nó mong". Nàng đi một đoạn nữa thì trời tạnh hẳn. Thế là đã qua một cơn bão!.


Mai Ly

Cau non

Chị em gái như trái cau non (Tục ngữ)

Lâu lắm tôi mới về quê. Đàn bà con gái khổ thế, vài trǎm cây số, xe cộ cà rịch cà tàng đến đón khách trả hàng thì cũng đi chiều đến, vậy mà không bạc cũng thành bạc.

Điện thoại, mẹ tôi nói: "Bận quá thì thôi", nhưng tôi biết mẹ mong tôi về. Giỗ cha tôi nǎm nào cũng được đứa Nam thiếu đứa Bắc. Lần này, Bắc - Nam về đủ, chẳng lẽ lại thiếu đứa ở miền Trung là tôi? Vả lại, thị thành ngột ngạt nóng rét, tôi cần thoát khỏi nó vài ngày. Phải lấy lại cái bình thường cho một sợi nào đó trong hệ thần kinh vì tôi cảm thấy nó không ổn lắm. Bứt khỏi cái guồng quay cuộc sống thường nhật thật không dễ.

Hai ngày để chuẩn bị cho chuyến đi. Gạo, dầu, mắm, muối, tắm gội cho con, giặt là cho chồng, trǎm thứ bà rằn. Biết là chẳng có tác dụng gì vẫn dặn dò đủ thứ. "Anh thấm rồi, em cứ yên tâm về". "Tuyệt đối đừng cho con lại gần giếng". "Em đã có câu đó nǎm sáu lần rồi!". "Anh phải đổi món cho con đấy!". "Đã bảo nhớ rồi"... Trằn trọc, thấp thỏm, không biết có còn quên dặn gì? Vừa thiu thiu ngủ, cái đồng hồ báo thức nhà bên đã khua roong roong: Lâu nay chẳng biết trách ai, tôi đâm ra hận cái ông nào đã phát minh cái chuông báo thức ấy. Tiếng gì cứ như tiếng gươm giáo chặt nhau trong đầu. Thà chọc béng một nhát vào ngực còn hơn. Không bật đèn cũng biết 4 giờ. Thế là toi một đêm. Tôi nằm nghe bố con, cậu cháu nhà họ chửi nhau như róc nứa, chán, lại đến tiếng dao thớt, soong nồi, bát đĩa. ở khu tập thể lại còn quay đít ra mặt đường, chẳng sinh hàng sinh quán cũng uổng.

Mình phải kiếm lấy một xó mà bốc ra. Làm cái nghề khốn khổ, cả vợ lẫn chồng, thức đêm thức hôm, lại còn bị tra tấn thế này nữa, nǎm này tháng khác, chịu không thấu. Cày cho hết báo này tới đài kia, mà mấy nǎm rồi chưa được cái công trình phụ. Tôi đâm quạu cả ông chồng làm thơ làm vǎn: Nhà thơ cũng có, chỉ nhà ở là không. Bạn bè cứ thúc. Nội, ngoại cứ mong. Hai quầng mắt tôi cứ sâu thêm, đậm thêm sau mỗi đêm. Kem phấn thế nào cũng không che nổi.

Làng tôi giống hệt một con thuyền nằm giữa biển lúa. Cha tôi bảo cụ tổ của chúng tôi lánh nạn về đây lập làng này. Ông ngờ mình là cháu con họ Mạc, bởi khi ráp gia phả họ Chu chúng tôi với họ Chu làng Thượng mà chúng tôi vẫn còn là nhánh trên, lại không khớp. Không ai để ý lời ông. Chỉ mình ông mang mãi trong lòng ý định tìm kiếm, nhưng không đầu mối. Phút lâm chung, ông gọi riêng tôi, dặn: "Nhắc - thằng - Trung - chuyện - họ - Mạc, khéo... không - mồ - cha - không khóc... lại - khóc - đống mối...". Và ông máy môi như còn định nói điều gì đó, nhưng không kịp. Anh Trung dǎm nǎm mới về một lần, nhà được mỗi ông con trai, thì sống tận Sài Gòn, lại bị vợ giữ rịt chẳng tha cho về một mình, bởi sợ cái lằng nhằng tình cũ nghĩa xưa... Hai bà chị làm cái việc chỉ liên quan đến tiền.

Cô em út là giáo viên thì quá môđéc. Tôi thương nó nhất nhà. Ai cũng bảo mặt mũi hai đứa chúng tôi giống nhau như đúc. Hai chị em tôi lǎn lóc dưới hầm mà cứ lớn phổng như khoai lang trồng đất cát pha mầu mỡ. Chúng tôi dẫn nhau đi theo đoàn người già trẻ con, sơ tán hết làng này sang xã khác. Từ khi tắm ở giếng làng còn cởi truồng, chúng tôi đã phải quen với tiếng gào rú của máy bay Mỹ, tiếng kêu khóc của những gia đình có người thân bị bom;

Và chị Tâm khóc không ra tiếng trong buồng vì mới cùng cả chi đoàn đi bới đất, bới nhà, nhặt từng mẩu thịt, nắm tóc... Làng tôi ở gần trạm giao liên. Ngày ngày từng đoàn xe tải dỡ hàng, bốc hàng. Máy bay cứ nghiêng qua, ngó lại, có khi đạp bừa dǎm ba trái. Vậy mà chẳng có mảnh đất nào bỏ hoang. Cấy sáng trǎng, gặt sáng trǎng, trẻ con đội đất mà lớn. Nhà tôi cũng một lần hứng đủ ba trái. "Phúc nhà to bằng cái bình vôi - mẹ tôi thường nói - nó tránh đúng cái hầm". Tôi còn nhớ như in cái cảm giác sắp chết ngạt của hai lǎm nǎm trước. Từng tổ kiến càng rụng xuống người, xâu vào cắn xé. Con út bảo: "Em chẳng nhớ gì". Nó mới ba tuổi mà. Vừa bằng cái phích, bây giờ đã là cô giáo, đã có chồng...

Tôi về đến cổng thì đã nghe mấy trái cau non đang chuyện nhao nhát trong nhà. Lại cả anh Trung về nữa. Mà về một mình.

- Nhà giáo và nhà báo được miễn. Còn lại - mỗi vị một triệu. Nhất trí như ủy ban chưa? Lâu không gặp, tôi nghe giọng chị Tâm tôi là lạ, Hà Nội hơn, có gang có thép hơn.

"Hoan hô trưởng nữ. út nữ này xin đa tạ thịnh tình của tỉ tỉ". út Thảo chắp tay trước ngực, nháy tôi. Quỷ sứ chứ cô giáo gì mà nói nǎng như bọn choai choai nghiện phim Hồng Kông. Thì em nghiện thật chứ sao. Chị không thấy họ giỏi à? Ra chợ xem, hàng Trung Quốc hơn nửa chợ!

Đêm, anh Trung nằm nhà ngoài đốt thuốc là liên tục. Thỉnh thoảng có tiếng dép lạt xạt. Chắc anh đi thắp hương. Có cái gì đó khác lạ trong anh, tôi không dám hỏi. Mấy chị em tôi chuyện rầm rì đến khuya. Chuyện làng chuyện xóm mà nghe cứ như tiểu thuyết. Trước kia, chuyện cả làng đi đào đá đỏ bỏ ruộng hoang rất ly kỳ. Bây giờ chuyện hậu đá đỏ hay không kém. Chồng tôi mà về chắc viết được cả pho. Nhiều chuyện cười xong, thấy muốn khóc. Cả chuyện con út lấy chồng cũng vậy. Nó và cậu Bảo yêu nhau, đã mấy nǎm - hai nhà đi lại. Đùng cái, thôi nhau. Cả hai nhà ngẩn tò te. Vậy mà hai đứa tỉnh queo. Rồi em đi lấy chồng, anh lấy vợ. Có thứ tình yêu nào vậy chớ? Thịt cắt còn đau nữa là... Nó bảo: "Bà cụ non ơi, phải yêu để kịp chán nhau trước khi ra trường, chứ cứ như bà, hai nǎm cầm tay, bốn nǎm mới sờ tóc, mất ǎn, mất ngủ dầu - hao - trǎng - khuyết, để ra thân tàn ma dại à? Lỡ không lấy được lại tự tử tự tiếc, rách việc!". "Khiếp, cô giáo gì như mày..." Tôi nói chưa xong đã nghe nó ngáy. Nó ngủ trông mới xinh làm sao. Nó là đứa tự buộc chân mình bên gốc chuối cho chúng tôi yên bụng đi xa.

Mùi hương trầm đầy nhà, khiến tôi nhớ cha tôi. Người thích đến nghiện ngập mùi này. Có khi không kịp quấn để thắp, ông xoa bột lên tay để hít hà.

Rễ hương tự ông rửa, phơi, giã riêng bằng cái cối đá nhỏ. Chu hương ông cũng tự tay chẻ, phơi trên cao. Thắp hương, đợi tàn ông mới đứng dậy. Có việc ra khỏi nhà là ông đóng cửa, giữ mùi thơm lại, thành thử chǎn, màn, quần áo, nhà chỗ nào cũng mùi trầm. Đôi khi bây giờ tôi cũng làm vậy. Đi làm về, mở cửa ra, thơm nức mũi, rất thích. Thế là ngày mai cha ở nhà xi mǎng. Chắc là lạnh lẽo, cô đơn, nhưng sẽ yên ổn hơn. Kín cổng cao tường, khỏi lo đạo tặc quấy phá, người trần làm ô uế, thất lạc. A, nhưng còn khói hương? Chắc sẽ khó vào được nơi người! Có lẽ vì thích mùi trầm quá mà cụ đặt tên chúng tôi là Thơm, Thảo...

Tôi vẫn không ngủ được. Lại sắp hết một đêm nữa. Ngoài kia anh Trung cũng không ngủ. Tôi chỉ biết mang máng rằng vợ chồng anh trục trặc, lại vào cái lúc đã xế chiều. Con Hiền tốt nghiệp xong không chịu nhận công tác, tha về một anh chàng vô công rồi nghề, hai đứa suốt ngày nằm đườn đưỡn, xem ti-vi, nghe nhạc. Thằng Dũng rớt đại học, đua đòi hút sách. út Thảo mắng trộm với tôi: "Đi ra, hò hét lính tráng được, thế mà về nhà có mụ vợ với hai đứa ranh con lại không dạy nổi. Cứ ném về đây cho em, trị trắng xương, ngoan liền". "Có phải đơn giản như em nghĩ!". "Cứ cố làm nó rối rắm làm gì. Làm khổ nhau cho lắm vào rồi cũng ra đất ra nước cả". "ừ, em cũng có lý. Mà sao chị vẫn thấy lo lo cho em". "Em chẳng khổ đâu. Tiền bạc có chồng kiếm, dạy về - quǎng mình xuống đệm, bật quạt, gọi ǎn thì dậy ǎn. Sau này có con - nuôi vú em". Cái con, cứ bộp bạp thế mà lại mau nước mắt. Anh Trung ốm sơ sơ, nó khóc như cha tôi mất...

*
* *

- Chị Thơm ơi, về thôi. ở đây, chị nghe cánh thợ nói tục không quen đâu - Thảo gọi tôi - Chị em xem cái nghĩa địa làng mình giờ sang không? Y như cái thành phố, nhỉ? Cũng nhà tầng, tường bao, tím vàng xanh đỏ. Toàn dân đi làm ǎn xa gửi tiền về xây đấy. Ai chưa xây được là như ngồi trên chảo rang. Người chết cũng tranh mặt đường. Chưa chết đã tranh đất xây mộ...

- Kể cũng hay. Bây giờ lại có cái thành phố của người chết! Giá có thật một cái chợ mà người sống người chết gặp nhau được như trong truyện thì hay nhỉ?

Dường như không thèm chấp cái lối nghĩ ngợi vẩn vơ của tôi, Thảo im lặng bước. Cái bím tóc mập mà đen lánh vắt qua vắt lại trên cặp mông tròn đầy. Cả nhà, mỗi mình nó có mái tóc đẹp thế, càng cắt lại càng nhanh dài. Chả bù cho tôi, nuôi thế nào cũng chỉ được như cái đuôi bò, thành thử cứ phải đến thợ uốn tóc.

*
**

Thế là xong xuôi mọi việc. Coi như ổn được một bề.

Rồi cũng phải chǎm cho bọn trẻ về quê, để còn biết cái gốc gác của mình. Với lại để bà cháu, dì cháu ríu rít với nhau, kẻo nữa lại nhìn nhau như khách. Mẹ tôi dạo này trông lạ hẳn đi. Cái vẻ tinh tướng không hiện rõ trên mặt nữa. Tóc bà như nhiều sợi bạc hơn, từng lời nói cũng không ném choang choang. Tôi tính soạn sửa để sáng mai đi sớm thì mẹ tôi gọi. Đợi đông đủ một lát, bà nói, giọng nghèn nghẹt:

- Tôi có chuyện ni phải nói cho út và cả nhà biết:

O đào Vân ốm nặng lắm, chắc không qua...

Thì có can hệ gì tới chúng tôi mà bà có vẻ quan trọng thế?

Bao nǎm nay nhà này có thấy nhắc đến bà già tội nghiệp ấy đâu? Cái nghề hát bà đã bỏ hơn bốn chục nǎm rồi mà cái nghiệp vẫn chưa hết. Nhà vǎn hóa huyện đưa người xuống dựng bà dậy nằn nì để học hát. ốm lên ốm xuống mà cũng bò dậy, dạy các o múa hát, mà như sống lại, đôi mắt già bỗng lóng lánh. Có kẻ ác miệng dèm: "Sắp xuống lỗ còn lắm chuyện". Bác chẳng sợ, cứ hát, cứ múa, còn lên sân khấu, đi hội diễn... ấy là tôi nghe cô bạn phóng viên kể thế!

Chẳng lấy được người tử tế, bà chịu gãy gánh nửa đường, không kịp có nổi mụn con mà ru, đành ru nhờ con thiên hạ, vậy mà không chịu đi bước nữa.

Nổi tiếng khắp vùng một thời về thanh, sắc; lại biết lắm điệu nhiều lời, cuộc hát nào có đào Vân là không khí khác hẳn. Cha tôi là thầy dạy hát của bà, là ông bầu của gánh hát, cũng phải nể trọng. Cha tôi mê hát, lại được ông nội tôi truyền nghề cẩn thận nên những ngón đàn điệu hát của ông cả vùng không dễ mấy ai sánh kịp. Đến quan phủ quan huyện cũng không dám cậy quyền cậy thế. Vậy mà vật đổi sao dời, ông bỗng thành người khác hẳn. Chúng tôi cũng chẳng biết đến cái quá khứ say người của ông. Thỉnh thoảng tôi nghe ông ca ư ử như sợ ai nghe: "Ngồi thử ngẫm trǎm huê (hoa) ai nuốm (nhuộm)... ư... hư... một huê là riêng một ứ... sắc ứ... hương (*)". Bây giờ thì tôi biết ông đã đau rứt rứt ruột khi phải mang theo hàng chục làn điệu ca trù xuống đất. Ông không dạy chúng tôi. Mà có dạy chắc gì chúng tôi chỉ hát hò láo nháo là giỏi, có biết ca trù nó hay nó đẹp thế nào đâu. Cứ thấy u hừ a hà thế thì chán chết!

- út ơi! Bà Vân là mẹ đẻ con đó... - mẹ tôi khó nhọc trút từng tiếng.

Chưa để chúng tôi kịp hoàn hồn vì quả bom ấy, bà đã lấy hơi nói liền một mạch như sợ sẽ không còn nói được:

- Gần ba chục nǎm rồi... mẹ có tội với con, với bà Vân.

Mẹ hồi đó là cán bộ. Mẹ buộc bà Vân phải bỏ làng mà đi cho đến ngày sinh con, giao nó cho mẹ mới được về ở làng, với lời thề sẽ mang điều bí mật ấy xuống mồ. út Thảo ngồi như bị đóng đinh xuống phản. Dưới ánh điện, gương mặt nó như nặn bằng sáp. Bất ngờ nó đứng vụt dậy, hét lên một tiếng: "Mẹ!" rồi đâm bổ ra ngõ. Tôi lao theo nó. Tôi rớt sau nó xa lắm mà vẫn nghe tiếng khóc tức tưởi của nó.

Tôi chạy mãi về cuối làng. Mệt quá, tôi dừng lại. Chợt nghĩ ra mình không nên có mặt ở đó lúc này. Tôi quay về, người hững hụt, chân thấp, mấy lần suýt ngã vào bụi, mặc dù đường làng vẫn sáng điện hắt ra từ mỗi nhà. Đến ngõ, tôi nghe anh Trung đang trách mẹ: "... Chuyện ghen tuông đàn bà còn không dám trách, nhưng bấy nhiêu nǎm bà Vân sống vò võ, hơn bảy mươi còn phải làm lụng nuôi mình, thế mà mẹ chịu được!". Mẹ tôi phân bua: "Mẹ sợ mất con Thảo. Mẹ thương nó như con đẻ, chǎm mớm cho nó từng thìa nước cháo từ khi nó còn đỏ hỏn". Với lại để bà Vân nuôi con, mẹ sợ bố anh đi lại nữa. Bà Vân đẹp, lại hát hay, một thời đàn ông ai cũng mê, nhưng bà ấy lại chỉ mê mỗi ông nhà ta. Mà cứ như có ma, hễ bà Vân ốm đau là y như ông ấy nằm liệt giường, cháo đút không chịu nuốt, dù không ai báo cho ông biết. Mọi tin tức về bà Vân mình giữ kín như bưng mà cũng vẫn rứa.

Tôi chợt nhớ cái trừng mắt lạnh người của mẹ tôi khi trong bận ǎn tôi đã nhắc tới bà Vân. Tôi cũng nhớ lại cái phút lâm chung cha tôi nhìn tôi như cầu cứu. ánh mắt ông lạ lắm, như hờn tủi xót xa, lại như bi phẫn, cam chịu đến tuyệt vọng. Bao nǎm trời ông sống như cái bóng, vợ đảm con ngoan ríu rít đầy nhà vẫn cô đơn. Tôi lần đầu tiên dám nhìn thẳng vào gương mặt loang loáng của mẹ. Cứ ngỡ bà khóc, hóa ra không phải. Đấy là ánh sáng phản chiếu từ những khung kính treo đầy trên tường. Đúng là mẹ tôi đã mất cha tôi từ khi phải mang cái bầu giả. Hay chưa bao giờ bà có được ông?

Tự nhiên, cái ước mơ về một ngôi nhà có công trình phụ hoàn hảo trong tôi không còn ráo riết để bám như trước nữa, nếu không nói là biến mất. Cả cái điều tôi định hỏi mẹ - rằng bây giờ chúng tôi phải dậy dỗ con thế nào cho chúng nó sợ, cũng vậy. Chẳng hiểu sao tôi bỗng thấy thèm được như út Thảo. Tôi cảm thấy yêu quý nó hơn bao giờ. Và chuyến về nhà ấy - tôi đã quên nhắc lời trǎn trối của cha tôi cho anh Trung.

Tháng 7-1979
Nguyễn Thị Phước

Mùa gió

Đứng trên bờ biển sát cạnh ngay mép nước, với những dép, làn và áo khoác vừa cởi, anh buộc cái phao nho nhỏ vào thắt lưng và kín đáo liếc nhìn lên mặt đê, nơi có hai người đàn bà đang ngồi.

Được ánh hoàng hôn choàng phủ lên, xiêm áo của họ bỗng mềm mại hẳn làm rõ những nét yêu kiều ở cô gái, người có đôi chân trần thon thả. Gió đùa trên mái tóc, hất ra, để lộ gương mặt u buồn và đôi mắt đen láy, thẳm sâu của người thiếu phụ mặc lụa sẫm màu. Người thiếu phụ nói chuyện bằng một giọng trầm, còn cô gái thi thoảng lại cất tiếng cười trong trẻo.Phao đã buộc xong, anh lồng tấm lưới trắng vào đầu chiếc gậy vừa đặt trên vai, vội vã xuống nước rồi đi ra khỏi bờ. Lại thêm một lần anh nhận thấy mình là kẻ trớ trêu trước thế giới con người: "Chắc hẳn họ, những người đàn bà sang trọng sẽ nhìn ta như nhìn một thằng đánh dậm. Phải một thằng đánh dậm đen như đêm và khốn khổ chẳng kém một chú còng còng"... "Chậc, thì đã sao nào, biết đâu họ cũng chỉ là những kẻ khốn nạn nào đó được áo quần che phủ?". Anh hằn học nghĩ. "Nhưng... sao lại có những người đẹp đến thế nhỉ". Anh nghĩ tiếp và bỗng nhiên lại quả quyết lao mình sâu hơn nữa vào phía đêm của biển.

Thiếu phụ nhìn "anh đánh dậm" và bảo với cô gái:

- Sao anh ta lại không rủ ai cùng làm cho vui, tối rồi còn gì, một mình giữa bao la như thế. Đêm. Lại bốn bề là sóng nước mênh mông. Không gì đáng sợ bằng sự cô đơn, thui thủi, đúng không nào, cô bé?... ? Sợ thật đấy, nhỡ ra... thì biết gọi ai?

Chị nói và nhìn theo hút anh chàng, lúc này đã lẫn vào nước sẫm tối, chỉ còn có cái chỏm đầu nhấp nhô với sóng ngoài xa.

- Có gọi thì cũng chẳng ai nghe thấy được, giờ này chỉ còn chị em mình ở đây nữa thôi. Nhưng... Chả lẽ chị chưa bao giờ cô đơn?... Cô gái cười tinh nghịch... Và cái gì thì rồi cũng quen được thôi. Anh ta cũng vậy, có lẽ cũng quen mãi cảnh đơn độc rồi. Em thấy anh ta chẳng có vẻ gì là sợ cả. Mà trông thế, đánh nhau thì đến thuồng luồng cũng phải thua ấy chứ. Chị đến đây nhiều chưa? Cái nghề của em khiến em phải nhận rõ về hình dáng mọi người, nguồn gốc nơi họ sinh sống. Em đoán anh ta không phải người vùng này, cũng chẳng phải là dân đánh lưới chuyên nghiệp. Em có cảm giác anh ta là một người thành phố, làm cái nghề này chỉ để trốn tránh một việc gì đó thôi.

Và cô gái mơ màng:

- Em dám chắc với chị nếu bây giờ anh ta khoác một chiếc sơ mi cổ cồn và thắt cà vạt, những ngón chân không ấm cát mà xỏ trong một đôi giày đen, trong túi lại có tiền rủng rỉnh, thì những cô gái thời thượng của chúng ta cứ gọi là... "chui vào lưới tất". Thật đấy.

Cô cũng nói với một giọng hằn học nào đó, thoảng qua.

Biển đêm dâng đầy, sóng vỗ từng đợt, từng đợt vào vách đá dưới chân đê, nơi hai người đang ngồi. Cô gái mỉm cười tự hỏi thầm trong ngực: "Vật vã, gầm gào mãi làm gì cho mệt, sóng ơi!? Quên đi, quên đi. Đừng tự đập nát mặt vào vô vọng mãi".

... Cô bỗng nhớ lại cái ngày đập mặt mình vào tường mà gọi tên một người đàn ông. Mà người ta vẫn không trở về, cho dù tiếng gọi đã đến hồi tuyệt vọng. Cô nghĩ về người cũ, nghĩ về những ngày bối rối và vô vọng, cái ngày cả cô và anh ta mới ở tuổi 20. Ngày mà cô thấy cả thế giới chỉ có tình yêu của cô và anh chàng là mối tình đáng kể, còn tất cả chỉ là sự đơn điệu hoặc hoang tưởng, nhạt phèo.

Nhưng rồi anh ta đã bỏ cô, chẳng vì cái lẽ gì rõ rệt có thể cắt nghĩa được, y như cái lý do để đến với nhau cũng cực kỳ vô lý. (Đấy là xét bằng cái con mắt tỉnh táo của cô bây giờ). Tuyệt vọng, cô thấy trời đất quay cuồng và thế giới như sắp sụp đổ. Đêm ngày cô cầu mong cả cô và anh ta bị trói vào nhau, được đưa đến trước một cái bể hỗn độn và đen kịt, chỉ chờ ai đó đẩy xuống cho xong mọi sự đời. Và điều đó đã xảy ra với 20 viên thuốc ngủ, nhưng thuốc chưa kịp ngấm thì cô đã kịp thời tự cứu sống mình bằng cách đến bệnh viện nhờ bác sĩ. Chẳng có ai cười cô khi đã thay đổi quyết định về sự chết - sống của mình nhanh đến vậy. Cô nghĩ "mà có cười chăng nữa thì đã sao?". Cô kể cho bác sĩ nghe những ý nghĩ đã lướt qua óc cô trong cái khoảnh khắc kinh hoàng ấy, rằng "thế là ngày mai ta không còn thức dậy nữa đâu. Thương cho bà ngoại quá, biết ta chết khi vừa mới nghe ta kể hôm nào về những ước muốn của mình, thì bà làm sao tin được? Lại thương cho ba mẹ, người sinh ra ta phải mang tội với đời vì đã để cho con mình tự tận thế này. Thương cho cái Thu từ này chẳng còn ai mà trò chuyện... Mà ta chết vì cái gì cơ chứ? Vì một người con trai đã ruồng bỏ ta ư? Sao ta lại hèn đến thế. Rồi cô ngước đôi mắt tuyệt vọng nhìn các bác sĩ. "Xin hãy cứu... ứu... ứu... cháu... áu".

Giờ thì mọi điều đã qua rồi, cô có thể bình tĩnh nhìn vào nỗi đau của mình như hôm nay nhìn sóng đập mình vào vách đá. Cô nhìn những cành dừa khô sũng nước, những chùm rong mà sóng hất lên bờ, thầm nghĩ: "Cảm ơn cuộc đời, dù cuộc đời có thế nào thì sống cũng còn là một sự khám phá, và chết chỉ là một kiểu đầu hàng...".

Thiếu phụ vẫn mải dõi theo anh chàng đánh lưới ở ngoài xa. Câu nói của cô gái về vầng ngực rộng khiến cho chị liên tưởng đến người đàn ông của chị. Giờ này anh đang ở xa, xa đến mức nếu chị muốn áp mặt vào ngực anh để tìm cái mùi quen thuộc như chính máu thịt của mình một lần nữa thôi thì chị phải vượt qua một người đàn bà khác. Mà điều đó đối với chị khó khăn chẳng kém cái việc phải quên anh đi trong đời sống của mình, cái việc khiến cho trái tim chị tan nát và mỗi lần nhớ đến lại đập lên từng hồi những lời rên rỉ.

Chị và người mà chị yêu đã có những ngày tháng nồng nàn, như biển kia đắm đuối với bờ đến ngàn lần mà không mệt mỏi, mà vẫn khao khát.

Biển đêm nay gió mùa thu thổi những hơi lành lạnh, bến vắng người làm chị càng nhớ đến anh hơn. Vào những đêm như thế này, một vầng ngực tựa như thế kia đã che chở cho chị, đã đón nhận những cái hôn của chị. Và chị đã lắng nghe hơi thở của anh trên mái tóc mình, lắng nghe những tiếng thầm thì.

- Ôi mùi hương quen thuộc của anh... Em có biết không, mùi của tóc em giúp cho anh tìm về với cuộc sống đấy. Và nó sẽ theo anh suốt cuộc đời... được không?...".

Rồi anh kể cho chị nghe cái ngày anh nằm quân y viện, trong vòng tay của một cô y tá đẹp như tiên nữ và căn phòng ngập mùi long não: "Cô ấy đẹp lắm em ạ, à... à mà, nhưng em còn đẹp hơn nhiều, tất nhiên rồi - Anh cười chữa cái vụng về của mình, rồi nói tiếp - Nhưng càng nhìn cô ấy anh càng nhớ đến em, đôi khi mùi long não lại làm cho anh tưởng tượng ra mùi hương mà tóc em vẫn gội. Anh nói em đừng cười chứ, chính cô ấy làm anh nhớ em nhiều hơn, mong về với em nhiều hơn, ngay cả lúc vết thương còn rất nặng..."

Tình yêu của anh chị là như thế.

Mà giờ đây anh lại thuộc về cô y tá kia. Người ta cứ bảo cuộc đời có những chỗ ngoặt bất ngờ. Anh gửi cho chị một lá thư một tuần sau cái ngày anh và chị còn đằm thắm với nhau dưới một đêm trăng, cũng thu lành lạnh như thế này và bên một bãi biển miền xa: "... Một hôm cô ấy khóc, kể cho anh biết rằng người yêu của cô đã hy sinh ngoài mặt trận. Anh hiểu nỗi đau của người mất mát, cố động viên cô ấy... Rồi anh nhận ra rằng cô ấy đã yêu anh từ lâu. Hết lòng chăm sóc vết thương của anh mà không dám thổ lộ tình yêu của mình, vì cô ấy chứng kiến những lần anh viết thư cho em ngay trên giường bệnh... Trước khi anh ra viện cô ấy đề nghị anh một điều... Anh đã tưởng... và anh đã... thế rồi anh ra viện, về với em như em đã thấy. Nhưng hôm nay, sau 4 năm gặp lại, anh không thể ngờ mẹ con cô ấy lại bơ vơ, khốn khổ đến nhường ấy... Quân y viện giải tán, cô ấy giải ngũ và không biết xoay sở thế nào để nuôi được con. Mà đứa bé thì giống như đúc. Anh thương mẹ con cô ấy và anh càng yêu em hơn. Bây giờ tuỳ em quyết định.

Cô ấy chỉ khóc mà không đòi hỏi gì cả. Anh phải nói thực để em biết và xin em tha thứ, xin em vẫn chấp nhận lời cầu hôn của anh như anh đã nói cùng em trước khi chúng ta chia tay nhau... Còn về mẹ con cô ấy, anh đã có sẵn giải pháp: sẽ thường xuyên gửi tiền giúp đỡ cô ấy nuôi con. Anh chờ thư em qua địa chỉ của T mà em đã biết...".

Bức thư giống như quả bom hất tung chị lên rồi thả rơi xuống cho toàn thân tan nát. Chị không tin vào những dòng chữ trước mắt mình. Chị không thể ngờ được mọi thứ lại đổi thay nhanh đến thế. Vừa mới 7 ngày trước đó chị còn thấy trái đất này đêm nào cũng tràn ngập ánh trăng và cuộc đời là biển với những con sóng yêu dào dạt, những con sóng xanh mầu trời, những con sóng tím màu hoàng hôn. Và căn phòng của chị là một thế giới của thơ ca và những nụ hôn hạnh phúc.

Chị không gửi thư đến địa chỉ T. Chị chuyển sang thuê một căn phòng khác. Không còn một tín hiệu nào được phát ra để anh có thể biết được ý nghĩ của chị, thậm chí chị không muốn ai còn nhắc đến tên anh với mình nữa.

Nhưng tên anh thì không ra khỏi trái tim chị, nó khắc một nét rất sâu vào trong đó, cho dù thời gian có phủ lên biết bao nhiêu những vui buồn khác. Vì công việc, nên có rất nhiều hoàng hôn tím chị còn gặp lại. Biết bao nhiêu ánh trăng vàng phủ ngập lối chị đi. Và biển vẫn cứ rộn rã không thể nào hiểu được qua những thì thầm của sóng.

Chị không cho anh biết về mình nhưng chị vẫn kín đáo dõi theo để biết về anh. Có thể vì tuyệt vô âm tín mà anh đã lấy cô ấy, có thể vì trách nhiệm người cha với đứa con, có thể chỉ giản đơn là trông đứa bé kháu khỉnh, và cũng có thể lắm, chính là bởi... "cô ấy đẹp lắm em ạ...".

Biển đêm nay hệt như biển đêm nào, hệt như nhiều đêm, bởi giữa hai người có biết bao đêm bên nhau cơ chứ. Lúc thì vầng ngực rộng hiện ra thoảng mùi mồ hôi của anh chàng vừa đi gặt lúa giúp dân. Lúc thì cái mắt có đuôi với nụ cười hóm hỉnh. Lúc thì anh cao hứng hát một bài "Vọng phu" mà chị rất thích. "Em cứ nhớ tên bài hát nào nói ra thì anh thuộc bài hát đó". Tưởng anh nói bốc đồng, chị đã thử, mà chị thì biết tên nhiều bài hát lắm, cũng là dân thích âm nhạc mà. Thế mà anh thuộc hết thật.

Ký ức đầy những kỷ niệm, nhưng lúc này có thể bởi cô gái nhắc đến vùng ngực rộng nên chị nghĩ về hình ảnh đôi môi chị lướt trên khoảng da thịt rắn chắc ấy, cái chỗ có trái tim đã từng đập mạnh mẽ vì chị ấy. Chị nhắm mắt lại cho những giọt nước mắt thi nhau chảy xuống, tràn trên gò má...

Vào lúc gió thổi khô dần những giọt nước mắt ấy, vào đúng cái lúc cô gái cũng đang hồi tưởng về phút giây hiểm nghèo đã vĩnh viễn qua đi ấy thì ở ngoài kia, trong đêm tối, trong nước, trong những bước chân ngày một xa bờ, cùng với tấm lưới đã thả hết trong mênh mông. Anh chàng "đánh dậm" cũng chẳng nghĩ gì đến cá. Lần đầu tiên kể từ khi chọn cái việc đánh cá ở chốn không người này để kiếm sống, anh không nghĩ đến mẻ lưới thu về trong đêm. Có lẽ người thiếu phụ và cô con gái là những hình ảnh xúc tác mạnh, cho anh nhớ ra rằng cuộc đời không chỉ là phải sống (chứ ai đàn ông lại tự vẫn bao giờ?) mà còn phải sống với những gì đẹp như gương mặt người đàn bà kia, hay như cặp chân trần của cô gái nọ. Không. Không thể chỉ là ăn, ngủ và quên đi hết thảy... Như anh đã từng quên. Anh quên rằng vợ anh là người có gương mặt hệt như thiếu phụ ấy, đôi mắt đen láy lấp lánh thứ ánh sáng tâm hồn và cặp chân cũng nõn nà trẻ trung như cô con gái nọ ngày mà anh mới cưới nàng về... Người ta có nhiều câu răn dụ về tình chồng vợ, nhưng anh thì bối rối giữa hai câu mà anh nhớ được: "ở đời vợ đẹp con khôn" và "Vợ đẹp là vợ người ta"... Thử hỏi đã là người đàn ông, lại đàn ông như anh, có đầy những cái mạnh ưu trội, sao lại không cưới một người đẹp làm vợ, nhất là người ấy lại yêu anh đến thế? Nàng lại đã sinh cho anh hai đứa con, một trai một gái, y như trời cho anh tất cả vậy. Nào có ai dám cược với anh rằng: đẹp, khôn lại là mầm tai hoạ. Yêu vợ đến như anh, thiên hạ cũng có, nhưng hiếm. Anh chẳng muốn cho nàng đi vượt khỏi tầm mắt của mình. Anh cũng chẳng dám rời nàng mà đi đâu quá xa. Đến mức cả gia đình anh lầm vào cảnh túng thiếu quanh năm. Anh và nàng cùng nhau nhớ đến một câu khác của đời về một túp lều tranh... Nhưng cũng chẳng được bao lâu, khi mà những đứa trẻ con lớn lên đau ốm và nghèo khổ. Nàng đã chẳng quản thân gái với biết bao nhọc nhằn của kiếp người làm công ăn lương trước những tay giám đốc ham muốn đủ thứ trên đời. Nhưng chỉ riêng ham muốn nàng thì họ không đạt được. Nàng đã phải tránh sự thù hằn của những người đàn ông thất bại. Và nàng đã giống như một con cá chuối đắm đuối vì con và vì chồng. Nhưng oái oăm thay, không biết từ đâu lại đồn đến tai chồng nàng rằng, nàng là người đàn bà hư hỏng. Lời đồn có từ đâu, từ mảnh lửa nào đã bốc lên làn khói? Hay nó đến là bởi chính đôi tai quá thính của chồng? Thiên hạ thiếu gì những người chỉ đơn giản: "Anh thích nghe thì tôi nói" làm chuyện vui đùa. Hay bởi tại có vật quý thì hay hình dung ra kẻ trộm? Hay bởi tại sự khó nhọc cuộc đời chỉ làm khô mái tóc nàng chứ chẳng làm ánh mắt của nàng bớt sáng. Mà cái ánh sáng tâm hồn thì lại quyến rũ vô tư tất cả những ai! Thế là vốn đã mặc cảm về nỗi không nuôi nổi vợ con, chồng nàng lại bị lời đồn xỉa cho những nhát dao sâu hoắm của ghen tuông, nhục nhã. Anh - chồng nàng, sau một thời gian hành hạ nàng cả về thể xác lẫn tinh thần đã rời bỏ nàng, con cái và phố phường với những lời đồn mà khi tỉnh táo anh cho rằng chẳng hề có lấy một chút căn cứ nào.Anh đã quên nàng, hay cũng có nghĩa là anh đã cố quên nàng. Anh vùi đau thương vào đêm tối. Anh không còn thích có các mối liên hệ với mọi người. Một mình, với tấm lưới vó. Một mình trong bao la, biển trò chuyện và chia sẻ. Anh bây giờ là những đêm về, làn đầy ắp cá, hay có vơi chút ít cũng chẳng làm sao. "Này, có mua thì tôi bán cho". Anh nói giá rất cao, bán được thì anh tặc lưỡi: "Đời có thương quái gì ta". Chỉ bán được giá thấp thì anh cũng tặc lưỡi: "Ta còn mong gì hơn nữa?"... Không có người đàn bà nào vượt được hình ảnh của vợ, nhưng để: "Quay về với cô ta thì không đời nào, chả lẽ con người có thể chịu nổi những lời đàm tiếu?". Anh hình dung ra vẻ mặt của các cô em gái. Chúng vênh lên mà giễu cái vẻ kiêu sa của nàng. Chúng thì thầm những lời bên tai mẹ anh. Và mẹ anh nhăn nhúm đau khổ khi thấy anh "lại cứ tha thiết yêu một đứa khác máu tanh lòng"... "Biển ơi, biển ơi...". Đã có lần anh kêu lên trong gió đêm: "... hiểu được con người lại như mò kim dưới đáy đại dương sao?". Đã bao lần anh nói với chính anh rằng vợ anh không có tội, nhưng đồng thời anh cũng biết anh không đủ sức vượt qua những gì người ta đặt ra trước lối trở về.

"Cá đây, cá đây..." và anh luôn mong cuộc kiếm sống, đánh bắt, rao bán của mình không gặp con người, không gặp những người quen. Nhưng không gặp người, không có con người thì đánh - bắt, mua - bán với ai, phỏng có ích gì? Anh không muốn gặp người quen, nhưng với người lạ thì dư âm còn lại thường là một sự chán chường ghê gớm... Kể từ đó đến nay đã 10 năm có lẻ.

Thế mà hôm nay, ai xui cho trời nhiều gió, ai xui cho hai người đàn bà có mặt trên bãi vắng này. Họ là người lạ hay có quen nhau? Còn anh thì lần đầu trông thấy họ, nhưng đã như thấy tự bao giờ. Hay cái vẻ đẹp ấy vẫn có hàng ngày, vẫn ở đâu đó trong cuộc đời mà anh không nhìn thấy kể từ khi mắt anh vướng một nỗi buồn?

Anh nhìn thấy họ trong một cái liếc thầm mà hình ảnh của họ thôi thúc anh ghê gớm. Cuộc sống thật đáng yêu bởi cuộc sống có những người đàn bà như thế sao? Anh có ngờ đâu rằng hai người đàn bà cũng nghĩ về cuộc sống với những niềm tin mới, bắt đầu từ hình ảnh của anh, hình ảnh người đàn ông vạm vỡ, vững chãi trước biển đêm hùng vĩ.

Trăng đã lên cao, rải xuống mặt biển những đợt sóng vàng óng như mật. Biển vẫn vỗ từng hồi vào bờ đá. Gió cứ dùng dằng một ước muốn: "Cho họ biết được ý nghĩ của nhau?". Hay cho biển đêm sẻ chia những tâm sự thầm kín? Mà gió cứ thổi quẩn quanh đây?.


Trần Thị Trường

Dưới bóng cây vạn tuế

Còn hơn chục ngày nữa mới đến Hội Đền Hùng. Thảo, con gái tôi nũng nịu:

- Mẹ ơi! Năm nay nhân tiện mẹ con mình cùng ở Việt Trì, ngày mai chủ nhật, mẹ đưa con đi thăm Đền Hùng nhé! Con chưa biết Đền Hùng thế nào cả.

- Ôi! Thế thì vui quá! - Nó reo lên và rúc đầu vào nách tôi.Thảo là con gái đầu của tôi. Cháu đang học lớp 10 văn tại trường chuyên Hùng Vương của tỉnh. Đợt này, tôi đang tập huấn nghiệp vụ ở Việt Trì. Hai mẹ con tôi có điều kiện bên nhau. Những ngày đầu xa Thảo, tôi nhớ nó lắm. Nhiều đêm trở mình, tôi thương nó đến phát khóc. Ngần ấy tuổi đầu đã phải xa mẹ, xa nhà, sống tự lập. Tôi lo hoài không biết nó có chịu được không? Thế rồi mãi cũng thành quen. Đợt này đi công tác, gặp cháu, tôi thấy nó chững chạc hẳn ra.

*
* *

Nhận lời con gái xong, tôi nằm thao thức mãi. Đền Hùng, nơi ấy là kỷ niệm của mối tình đầu của tôi. Nhắc đến Đền Hùng là tim tôi lại nhói lên những kỷ niệm da diết ngọt ngào. Cứ mỗi lần đi công tác, qua ngã ba Đền Hùng, tôi không thể nào quên được nơi gặp gỡ, hẹn hò với một người con trai có tên là Tuấn. Mặc dù quê tôi mãi ở Đoan Hùng nhưng tình yêu đầu đời của tôi lại ở Thậm Thình dưới chân núi Nghĩa Lĩnh.

Ngày đó, cách đây dễ đến hơn hai mươi năm, tôi là một cô gái trông cũng xinh xắn của khối lớp 10, lớp cuối cấp 3 trường huyện. Tôi cảm nhận được điều này là do thấy khá nhiều chàng trai theo đuổi tôi, trong số đó có Tuấn. Tuấn cao ráo, đẹp trai lại học giỏi. Phải mỗi tội là Tuấn ít nói lắm. trông Tuấn hiền khô. Cặp mắt Tuấn ẩn chứa bao điều muốn nói. Cứ cách ngày, trong hộp bàn học của tôi lại có một lá thư của Tuấn. Những vần thơ tuổi học trò trong trắng, mộng mơ. Hồi ấy, tôi vô tư lự lắm. Vô tư lự đến dửng dưng vậy. Chẳng bao giờ tôi thư lại cho Tuấn cả. Đã thế, Tuấn càng theo sát tôi hơn. Thư Tuấn viết cho tôi càng nồng nàn hơn. Thi tốt nghiệp xong, Tuấn nhập ngũ. Hôm chia tay Tuấn, tôi mới giật mình, thương Tuấn quá. Phải chăng tình cảm con người chính lúc xa nhau mới càng bộc lộ rõ, kể cả lòng mình? Tôi vội vã tìm Tuấn, tặng Tuấn một cuốn sổ tay. Tôi cũng chưa nói lời yêu với Tuấn. Tuấn xiết chặt tay tôi, lặng lẽ lên đường.

Tôi thi trượt đại học. Bố tôi quyết định cho tôi đi học trường nghiệp vụ ngân hàng tỉnh. Trường này đóng ở xã Kim Đức, gần Đền Hùng. Tôi tiếp tục con đường học hành. Những ngày xa quê, tôi mới có dịp nhìn lại mình, nhớ tới bè bạn. Những lá thư của Tuấn tôi còn giữ đủ cả. Bây giờ chính đó lại là nguồn động viên chủ yếu của tôi. Thế rồi chúng tôi gặp nhau. Đơn vị của Tuấn đóng quân ngay dưới chân núi Hùng. Đó là trung đoàn Phong Châu của tỉnh. Chủ nhật nào cũng thế, Tuấn đến trường tìm tôi. Vừa là đồng hương, bạn học cũ, vừa sẵn tình cảm thầm kín từ thuở cấp 3, chúng tôi quấn quít bên nhau. Con đường dưới chân núi Nghĩa Lĩnh, cánh rừng thông, đồi bạch đàn nơi ấy đã chứng kiến bao buổi hẹn hò của chúng tôi. Những ngày chủ nhật, cả tôi và Tuấn đều rảnh rỗi. Tuấn dắt tay tôi leo núi. Càng lên cao, tôi càng choáng ngợp bởi phong cảnh nên thơ của quê hương Đất Tổ. Tôi thả rộng tầm mắt ngắm nhìn sông, núi, trời, mây... Xa tít về phía đông nam kia là dãy Tam Đảo. Chếch về phía tây là đỉnh Ba Vì. Hai dãy núi như hai cánh cửa giữ cho núi Hùng gối sơn đạp thuỷ. Xung quanh chỗ chúng tôi đứng còn có bao nhiêu là ngọn đồi nhấp nhô trùng điệp. Tất cả đều quay hướng về đây. Các cụ bảo rằng có 99 ngọn đồi như thế. Đó là 99 con voi quay chầu mộ Tổ. Và kia, sông Hồng, sông Lô như hai dải lụa bao bọc uốn quanh, gặp nhau ở Việt Trì để làm nên một thành phố công nghiệp ngã ba sông Đầy mơ mộng. Gần hơn nữa dưới nắng thu là những tàu cọ vươn cao lấp loáng. Chúng tôi say sưa nhìn ngắm. Lần nào cũng thế, sau khi dắt nhau đi thăm hết các đền, leo rừng ngắm cảnh, hai đứa tôi lại về nghỉ dưới bóng cây vạn tuế nơi Đền Hạ. Tại đây, chúng tôi đã kể cho nhau nghe bao điều hằng ấp ủ. Chính gốc cây vạn tuế ấy đã chứng kiến những lời yêu thương thắm thiết của tôi và Tuấn. Chiếc nhẫn bằng nhôm khắc hai chữ TX mà Tuấn trao tôi, giờ tôi vẫn còn giữ. Tôi nhớ như in câu Tuấn nói với tôi hôm trao chiếc nhẫn đó: "Anh yêu em, Xuân ơi! Nhất định chúng mình sẽ sống bên nhau trọn đời em nhé!". Tôi hồi hộp sung sướng, lặng nhìn Tuấn, khẽ gật đầu. Và chính cây vạn tuế ấy đã chứng kiến nụ hôn đầu đời của chúng tôi.

Thế rồi Tuấn có lệnh đi chiến đấu. Dạo đó chiến tranh biên giới phía tây nam ác liệt lắm. Tuấn không kịp chia tay với tôi, chỉ để lại cho tôi một lá thư và một bài thơ đau đáu hẹn về. Từ đó tôi bặt tin Tuấn. Gần một năm sau, tôi về quê thì nhận được tin Tuấn đã hy sinh tại chiến trường đất bạn. Tôi như quỵ xuống. Đôi mắt tôi vô hồn gọi mãi tên anh. Mấy ngày ở quê, tôi không rời mẹ Tuấn nửa bước. Lưng mẹ đã còng giờ lại càng còng hơn. Mẹ cũng linh cảm được mối tình của tôi và Tuấn. Mẹ như câm lặng trước bàn thờ đứa con trai yêu quý của mình. Lòng tôi xót xa. Anh Tuấn ơi! Sao anh nỡ vội bỏ mẹ và bỏ em mà đi thế! Tôi như kẻ mất hồn, chẳng thiết gì nữa. Bố mẹ tôi khuyên bảo mãi tôi mới trở lại trường. Trời ơi! Mối tình đầu của tôi! Và rồi thời gian cũng khoả lấp, nguôi ngoai vết thương lòng đau đớn ấy. Tôi đã cố gắng vượt lên. Tốt nghiệp ra trường, tôi được phân về huyện nhà công tác. Đã có bao người mối lái dạm hỏi tôi, tôi đều từ chối. Hình ảnh Tuấn vẫn in đậm mãi trong tôi. Đến năm 25 tuổi, bố mẹ tôi thúc ép quá, hơn nữa gặp được người tâm đầu ý hợp, tôi đã đi lấy chồng. Chồng tôi cũng công tác tại huyện. Một năm sau đó, bé Thảo của tôi ra đời. Chúng tôi chuyển nhà ra phố huyện ở. Cuộc sống gia đình tôi khá hạnh phúc. Không ai hay biết gì về mối tình đầu của tôi và Tuấn.

Một thời gian sau, Tuấn đột ngột trở về. Mặt Tuấn đầy sẹo nhằng nhịt. Một chân Tuấn bị cụt đến tận háng, phải chống nạng để đi. Cả làng tôi xôn xao khi được tin đó. Tôi bàng hoàng không dám nghĩ đó là sự thật. Tôi tức tốc về quê. Nhà Tuấn vui như mở hội. Tôi len qua mọi người để vào gặp Tuấn. Ngực tôi rung lên. Tôi cố giữ bình tĩnh. Đến nơi, tôi không nhận ra Tuấn nữa. Chỉ có đôi mắt của anh, vâng, chỉ có đôi mắt của anh là vẫn nguyên của tôi ngày đó. Tôi sững lại giây lát rồi giữa bao người như thế, tôi lao đến bên anh: Anh Tuấn! Rồi tôi oà khóc. Mẹ Tuấn đỡ tôi dậy. Tôi càng khóc to hơn. Tuấn vỗ về: "Xuân ơi! Chuyện dài lắm! Rồi anh sẽ kể em nghe!". Tôi không chịu được nữa. Hình như nỗi tủi thân, trách cứ và thương Tuấn được dịp trào ra. Tôi gào lên: Anh Tuấn!...

Sau cái hôm Tuấn về, chúng tôi có một buổi dành riêng cho nhau. Tuấn kể cho tôi nghe về việc Tuấn bị "hy sinh" ở mặt trận. Đó là vào năm 1977, đơn vị Tuấn được lệnh đánh vào sào huyệt của bọn Pôn Pốt. Chiến sự ác liệt. Tuấn bị lạc đơn vị và lĩnh trọn một trái pháo. Khi tỉnh lại thì đã thấy mình ở trong một ngôi chùa cổ kính, thấp thoáng bóng các nhà sư đi lại. Họ đang tập trung cứu chữa cho Tuấn. Rồi chẳng biết họ chuyển Tuấn đi đâu nữa cả. Mãi đến năm 1979, giải phóng Phnôm Pênh xong, Tuấn được một đơn vị của ta tiếp nhận và chuyển Tuấn đi an dưỡng. Tuấn ra Bắc về trại điều đưỡng thương binh nặng ở Nam Hà. Được ít ngày thì hay tin Xuân đã lấy chồng và có bé Thảo. Tuấn vừa buồn lại vừa mừng. Đắn đo mãi, Tuấn mới quyết định về quê. Định bụng sẽ ở hẳn trại không về nhà nữa, sau rồi nghĩ tới bố mẹ già nua ngày đêm ở nhà khói hương cho Tuấn, Tuấn không cầm lòng được.

Tôi nghe Tuấn kể mà lệ cứ rưng rưng: Em có lỗi với anh. Tha lỗi cho em anh Tuấn nhé! Cầm tay tôi, thấy ngón tay tôi vẫn đeo chiếc nhẫn mà Tuấn tặng tôi ngày nào, Tuấn khẽ nói: "Em không có lỗi gì cả. Anh mừng cho em và chúc em hạnh phúc". Tuấn ở nhà chơi ít ngày, sau đó lại trở về trại điều dưỡng.

*
* *

Ngày mai tôi sẽ đưa Thảo đi thăm Đền Hùng, tôi sẽ tìm lại kỷ niệm xưa với Tuấn ở bên gốc cây vạn tuế đầy thương nhớ ấy.

Sáng dậy, hai mẹ con tôi háo hức lên đường. Tám giờ sáng, chúng tôi đã đến cổng Đền. Cuối tháng hai, chuẩn bị cho Hội đã thấy nhiều hàng quán dựng lên hai ven đường. Mấy đứa trẻ bán hương nhao nhao gặp tôi mời mua hương. Tôi gọi một đứa bé nhất trong bọn mua chục thẻ hương và hỏi nó:

- Từ sáng đến giờ có ai lên đền chưa cháu?

Nó nhanh nhảu đáp:

- Dạ. Có rồi ạ. Một chú thương binh cụt chân chống nạng lên được một lúc lâu rồi ạ. Chú ấy đi có vẻ khó nhọc lắm. Mấy bạn lớp cháu phải dìu chú ấy đấy.

Tôi giật mình thoáng nghĩ: Hay là Tuấn? Có phải anh không đấy? Sao anh lại đi một mình? Đứa bé còn nói thêm là năm ngoái, năm kia năm nào cũng thế, chú ấy đều đi đền sớm nhất. Chú ấy bảo: đi sớm cho khỏi phải chen người, chứ nếu đi chính Hội thì chú có một chân làm sao mà chen nổi.

Tôi đưa Thảo vào thắp hương từng đền một. Con bé ngơ ngẩn trước cảnh vạn nhiên hùng vĩ và uy nghi nơi đây. Do buổi sớm và chưa phải là ngày chính Hội nên khách thăm chỉ rải rác ít người. Chúng tôi có điều kiện thong thả ngắm cảnh. Thắp hương xong, như một thói quen định sẵn, tôi dắt Thảo tìm đến cây vạn tuế. Khi cách gốc cây vạn tuế chừng mươi mét, tôi thấy một đám trẻ bán hương đang xúm xít quanh một người nghe kể chuyện. Tôi ra hiệu cho Thảo im lặng lại gần. Trước mắt tôi đúng là Tuấn. Mắt tôi nhoà đi. Chân tôi như chết cứng tại chỗ. Không ngờ lại gặp anh ở đây. Tôi lặng yên nghe Tuấn đang kể chuyện cho lũ trẻ. Tuấn say sưa kể lại những kỷ niệm của mình dưới gốc cây vạn tuế này và những trận đánh quân xâm lấn, bảo vệ biên cương Tổ quốc. Gương mặt Tuấn rạng rỡ. Có lẽ Tuấn rất vui khi nhớ về những năm tháng oanh liệt đó. Mấy đứa trẻ tròn xoe mắt ngồi nghe quên cả việc bán hương.

Dáng chừng đợi mẹ lâu quá, Thảo lắc mạnh tay tôi:

- Mẹ! Chúng mình xuống thăm Đền Giếng chứ?

Tôi choàng tỉnh. Cả mấy chú cháu phía Tuấn cũng đột ngột quay lại. Tuấn nhận ra tôi. Không kìm được lòng mình nữa, tôi lao về phía Tuấn. Lũ trẻ ngơ ngác. Một cơn gió bất ngờ thổi đến. Tán lá trên ngọn cây vạn tuế rì rào. Mãi sau, Tuấn mới lúng túng gỡ tay tôi. Sau khi chúng tôi giới thiệu nhau cho bọn trẻ, tất cả cùng cười vui. Thì ra năm nào cũng vậy, Tuấn đều trốn trại điều đưỡng để về với Hội. Bọn trẻ ở đây đã quen anh. Với anh, cây vạn tuế này là kỷ niệm vạn liêng của cuộc đời.


Xuân Thu

Miền cỏ hoang

Trong vườn, có một khoảng nhỏ bà trồng đủ các thứ rau: chân vịt, mã đề, diếp cá, cả rau dền đất. Bà dùng thân lau nẹp thành liếp. Ken dầy đến nỗi gà cũng không chui vào được. Suốt ngày bà ở ngoài bám đất, cuốc xới, nhặt cỏ, ươm cây.

Bà bảo các thứ rau này, đừng nghĩ nó dại, thuốc nam hết cả. Mùa hè bà luộc rau sam, rau chân vịt "ăn cho nó mát", nhưng đến bữa cả nhà chỉ ăn hết góc đĩa, bởi nó cứ nhơn nhớt, nhàn nhạt thế nào ấy. Hơi nóng sốt một tí là y như rằng bà nhai diếp cá bắt đắp lên trán, hôi ơi là hôi. Chỉ bữa nào có cua đồng, mẹ nhổ rau dền đất nấu canh, cô Sửu mới khen ngon. Ngày cô Sửu đám cưới, đám thanh niên hè nhau đạp gãy cái hàng rào của bà để vào xem cái video bố đem từ trên huyện về chiếu bộ phim đánh chém nhau của Hồng Công. Sáng sau ra vườn, thấy đất bị dẫm đạp vô số dấu giày, rau cỏ nát bét lẫn với đầu mẩu thuốc lá, bà sốt ruột chửi um, đến nỗi mẹ phải gắt bà mới thôi. Chiều lại đã thấy bà mang cuốc chét ra cuốc xới. Chú Thao từ bên kia đồi vác sang mấy bó lau, lụi hụi trồng cái liếp rào cho bà. Bố cằn nhằn: "Không có việc bà nghỉ cho khoẻ, việc gì phải đất với cỏ".

*
**

Lối dẫn ra nhà chú Thao băng qua một vạt đồi cỏ léc cao quá đầu người. Men bờ khe có hơi nước, léc xanh um tùm, lá to và dài, trông rợn cả người. Trong rừng không có loại cây nào lá sắc như cây léc, chỉ cần vương nhẹ nghe đau, y như rằng lá léc cắt. Thế nhưng chú Thao không phát đường, cứ đạp léc xuống mà đi, chân léc gãy không cong rẽ ra hai bên tạo cho lối đi hình cái máng vòm. Mùa khô, những người đi bứt lá về bỏ chuồng hay đi qua lối nhà chú Thao, nhưng hễ mưa xuống trên phiến léc thỉnh thoảng có vắt, sên, nên con đường hầu như bỏ hoang. Lâu ngày, từ những gốc léc gãy, những mầm léc non lá tươi và mềm vươn lên vẫy vẫy.

Chú Thao là người trở về cuối cùng của xóm. Ngày chú ôm chiếc túi lép bước vào cổng nhà, thím Hồng đã hai mặt con, ở với chồng bên chợ, cách sông và một thôi đường. Bà ôm lấy chú mà khóc, mà kể lể thôi là kể lể. Mẹ và cô Sửu khóc thút thít. Chú đứng trước bàn thờ mình chẳng nói gì, cơ má trái giật giật. Mặt chú trông chẳng giống mặt người trong ảnh, phía hay giật đen một mảnh và đầy sẹo nhỏ.

Bà nhắn qua chợ cho thím Hồng. Thím về có một mình, mắt đỏ hoe. Vừa thấy chú Thao thím liền sụp xuống lạy. Cơ má trái của chú càng giật mạnh hơn. Chú bảo: "Sự thể đã thế, đừng nghĩ ngợi gì. Cố mà sống vuông tròn với người ta". Thím Hồng về, rồi lâu không thấy sang nữa.

ở nhà được ít lâu, chú Thao làm cái nhà bây giờ. Căn nhà lúc mới dựng nằm chỏng lỏn giữa bạt ngàn cỏ léc, đứng xa không trông thấy. Chú Thao cặm cụi cuốc đất trồng khoai, trồng sắn. Đất tốt, chả mấy chốc vườn chú đã có cái để thu hoạch. Bây giờ, những cây xoài cây mãng cầu đã lớn nhanh lên khỏi ngọn léc. Nghe đâu chú còn định xin xã cho khai phá mấy vạt đồi phía sau để trồng bạch đàn nhưng xã không cho. Ông Bính chủ tịch nói là đất ấy nhiều bom đạn, đụng vào lỡ xảy ra chết chóc, không ai chịu trách nhiệm. Chú gặp bố nhờ nói hộ. Bố bảo: "Không dễ", chú nhắc lại: "Vâng, không dễ", rồi về.

Những chiều muộn chăn trâu bên này đồi nghe vẳng từ bên kia tiếng sáo. Dặt dìu nôn nao. Tiếng sáo phảng phất trong sương khói chiều nghe có cái gì quằn quại trong lòng. Cả rừng léc rập rờn theo tiếng sáo. Lũ chăn trâu đứng ngẩng quên cả ngày đang tắt, quên cả đói cả lạnh. Dứt tiếng sáo chúng mới lục đục lùa trâu về, thầm thì kháo nhau: "Ông Thao trông mặt sợ thế mà thổi sáo hay tàn bạo nhỉ!".

Bà kể, ngày con gái thím Hồng xinh nhất làng Thượng, nhà đã gả chồng rồi vẫn nhất quyết chối chỉ bởi mê tiếng sáo chú Thao. Đêm văn nghệ nào có chú thổi sáo, thanh niên nam nữ đứng xem đông nghịt, hết thảy đều ngây ngất. Tiếng sáo như có bùa quyến rũ hết con gái làng, đến nỗi trai làng có bận dọa bẻ hết ống sáo chú Thao, cấm chú thổi. "ấy vậy mà bây giờ..." Nói thế, bà lại khóc. Mỗi lần nghe bà khóc, cô Sửu nhăn mặt: "Ai người ta cũng biết, mẹ kể mà làm gì".

Khoảng gần Tết, mấy cây chanh ghép trong vườn chú Thao trổ bói. Giữa một vùng chỉ cỏ là cỏ, hương chanh ngọt ngào, tinh khiết. Ong rừng nương theo mùi hương rủ nhau bay về, rập rờn trên những vầng hoa trắng. Chú Thao ngồi hàng buổi trầm ngâm, mắt vời vợi mông lung trông ra bạt ngàn ngọn léc uốn cong theo gió, cơ má trái giật giật.

Từ độ hoa chanh vườn chú Thao nở, cô Sửu thỉnh thoảng sai "Mày chạy vào nhà ông Thao kiếm ít hoa về gội đầu". Cô đâm nghiền thứ nước bồ kết nấu thả vài cánh chanh trắng, hương thoang thoảng, thanh và cay, gội xong nhiều ngày mà hương còn ủ trong tóc. Hoa chanh nở có kỳ, nhưng cô Sửu bao giờ cũng có để gội đầu là nhờ chú Thao nhặt hoa rụng, hong khô, cất kỹ, mỗi bận lại cho cô Sửu một ít. Cô Sửu có lần đùa: "Vì mấy cây chanh nhà ông Thao mà tao lấy được chồng, cô hếch mặt: "Còn mày, đến thời không bù giá bằng hoa chanh được. Bảo bố mày sắm cho ít vòng xuyến...".

Cô Sửu vốn không đẹp, da đen, vóc người to ngang, ăn nói đốp chát. Học xong trung cấp nông nghiệp, về xã làm kỹ thuật viên, cũng chân lấm tay bùn như ai, nhưng hễ trai làng buông lời tán tỉnh là cô bỉu môi ra chiều cười thường. Cô nói cô thích người trình độ. Ngoài ba mươi, cô còn ở vậy. ấy thế nên cô nhận lời lấy anh kỹ sư ở cơ quan bố.

Bà cũng hay sai. Bà thường bảo mang những thức rau trong vườn cho chú Thao. Mỗi lần sai đi bà lại đem chuyện chú Thao hồi chưa đi bộ đội ra kể, nào là chuyện chú Thao tát cá về bắt bà nấu canh rau tập tàng ra sao, nào là chuyện chú Thao cuốc đất khỏe như thế nào. Thôi thì đủ chuyện, dài có khi hết buổi, làm mẹ phải nhắc khẽ: "Chạy ù đi rồi về học bài".

Chú Thao ít qua nhà nhưng hễ qua là thế nào chú cũng mang cho chục trứng, miếng thịt nhím, thịt chồn bẫy được, ngồi với bà một chốc, nói dăm ba câu là đi ngay. Có lần cô Sửu bảo: "Hay anh lấy vợ đi. Đã già đâu. Em sẽ mối cho anh con bạn học..." Không chờ cô Sửu nói hết, chú Thao trừng mắt làm cô ấn gãy thỏi son đang tô môi giở, xịu mặt. Chú Thao đi rồi cô mới toang toang: "Dở hơi, ông Thao ông ấy dở hơi. Thời này đàn bà rẫy ra, khối đứa thèm đàn ông không ai để mắt. Ông Thao có hơi bị cháy mặt một chút nhưng cũng là đàn ông. Có vợ có chồng vẫn cứ hơn thui thủi một mình. Biết toan tính, chăm chỉ như ông ấy, chả mấy chốc mà giàu. Hay còn chung thủy với bà Hồng? Bà ấy đã là vợ người ta, còn thương tiếc nỗi gì nữa không biết..." Bố gắt: "Biết thì nói, không thì đừng. Cô là hay nói nhiều". Cô Sửu đùng đùng: "Thấy phải là tôi nói chứ! Ông làm như ông thương ông Thao lắm không bằng. Thương sao để ông ấy ra ở rừng một mình? Sao không chạy cho ông ấy cái giấy thương tật? Mà ông chỉ bảo với xã một tiếng là người ta cho ông Thao thầu cái đồi léc, thế mà không. Để cho cỏ nó mọc bạt ngàn, người ta muốn làm kinh tế lại không cho". "Đã bảo lắm bom...". "Bom cái gì? Ông không phải sợ cho cái tính mạng của ông Thao, ông sợ cái khác. Đạo đức giả tuốt!". "Cô đừng có hồ đồ. Im đi cho tôi nhờ!". Bố bực bội. Cô Sửu không im, cô xỉa xói: "Ông đừng ỉ mà quát tôi nhé! Ông bắt ai im được chứ tôi thì đừng hòng. Tôi biết tỏng trăm ngàn chuyện xấu xa của ông. Tôi biết cả cái giấy đòi nhập ngũ là đề tên ông, nhưng vì ông sắp đi nước ngoài nên phải cạy cục lo cho ông Thao đi thay. Có ông Thao gánh hết thiệt thòi ông mới thành ông này ông nọ. ấy thế mà giá ông Thao chết đi có khi ông lại dễ chịu hơn là thấy ông ấy lù lù dẫn xác trở về..." "Mày, mày, mày..." - Bố lắp bắp, mặt đỏ ngầu. Cô Sửu ngoảy mặt bỏ đi. Bà rên rẩm: "Vô phước, tao vô phước..." Mẹ lặng im cắn môi ngồi một mình trong buồng. Bố nổ máy xe phóng ra huyện dù chưa hết ngày chủ nhật.

*
**

Cô Sửu lấy chồng chưa đầy năm thì tay xách nách mang về nhà. Mẹ kéo cô vào buồng, mặt tái nhợt: "Làm sao thế hả". Cô Sửu khóc, nói trong nước mắt: "Em dại. Đã trót ở đến chừng ấy thế mà không ở luôn, lấy chồng làm gì cho nó nhục...". Mẹ đảo mắt chung quanh hoảng sợ: "Thì nho nhỏ thôi! Có gì cô nói đi xem nào". Cô Sửu quệt nước mắt: "Cái số em nó khổ. Ngót ba chục tuổi đầu ai cũng cười ế ẩm, lấy chồng trình độ, ăn trắng mặc trơn thiên hạ tưởng sung sướng, nào ngờ vớ phải thằng cha bất lực. Biết em có bầu, nó đánh chửi em thậm tệ...". "Trời ơi là trời!" - Mẹ bưng mặt.

"Tôi bỏ chồng. Ai nói gì thì nói". Cô Sửu tuyên bố khi có đủ mặt cả nhà. Bà chu chéo, bà bảo rằng chính cô làm nhục gia phong, rằng cô bôi tro trát trấu vào mặt bà. Bà khóc, bà chửi ầm cả nhà. Bố im lặng hút thuốc, mãi sau mới nói: "Chuyện xấu, chẳng biết giấu đi, cứ vạch áo cho người xem lưng. Cái làng này không khéo đến lúc cô Sửu đẻ, họ kéo cả đến xem đứa bé giống ai...". "Muốn xem tôi cho xem chứ! Tôi sợ gì mà giấu với diếm". "Hay hớn lắm đấy, cô lên phố mà xem, mấy hôm nay đầu đường xó chợ, đâu cũng thấy tụ tập đàm tiếu chuyện vợ chồng cô. Cô không ngượng nhưng mà tôi ngượng, tôi nhục...". Cô Sửu cúi nhìn cái bụng sắp sửa vượt mặt, lại khóc. Nhà buồn như có đám.

Tháng Chạp thứ hai, hoa chanh vườn chú Thao nở. Cô Sửu đã không còn sai chạy sang chú Thao lấy hoa chanh nữa. Cỏ léc vẫn rập rờn xanh biếc một màu, ngàn ngàn lớp sóng xô đuổi nhau chạy qua, xôn xao, khấp khởi. Heo may thổi lồng lộng buốt lên tận óc. Lại mưa phùn hay đổ vào buổi chiều tối, giăng mắc lên làng mạc một làn sương mờ dày đặc. Bà bây giờ chỉ còn ngồi hong tay trên bếp lửa, hết sáng tới chiều, hết chiều tới tối, đêm bà ngủ mẹ cũng phải vùi than dưới giường cho bà. Lâu bà không còn nhắc đái vào cái máng sau vườn nữa. Khoảng đất của bà dền đất già nở từng bông hoa xanh xám dài ngoẳn ngoẵn, chen chúc với lũ cỏ hôi hoa màu hồng hồng, lá phủ một lớp lông mọc nham nhám. Cái liếp rào một lần gió lay là xiêu vẹo chực ngã. Phần cái cuốc chét, cán gãy mẹ đã cho vào bếp đun, lưỡi sắt hôm qua thằng cu Ti đã bán cho đồng nát.

Con cô Sửu xinh như tranh, chỉ mỗi hay đái dầm. Không thấy hàng xóm đến xem mặt đứa bé như lời bố, chỉ có ông Bính chủ tịch không con đến nhận thằng bé nhưng cô Sửu cười bảo: "Tôi đẻ, con tôi, chẳng con ai cả".

Cô đặt thằng bé vào cái nôi buông mùng trắng rồi hát:

Cái vạc mày ngủ cho ngon

Mai sau mày lớn, tìm cho ra gái ngoan mà hẹn hò...

Cô bảo: "Mày trông chừng em cho cô nhé! Cô chạy quàng đi một tí. Lâu ngày nằm ổ, buồn quá!". Cô vấn tóc chùm khăn kín mặt, đi. Quá bữa cô mới về. Từ ngoài ngõ đã nghe tiếng cô oang oang: "Điên, ông Thao nhà mày điên mất rồi". Mẹ tất tả chạy từ dưới bếp lên. Cô Sửu vừa tháo khăn vừa nói: "Đàn bà không chồng làng này thiếu gì. Lấy ai chẳng lấy, lại đi rước mẹ con con mụ Nền. Mang gông suốt đời mà không tránh khỏi miệng thế gian"...à, ra cô Nền về ở với chú Thao. Cô Nền nhà ở gần trường học, không thấy nói có chồng nhưng có ba đứa con. Bọn học trò hay vào nhà cô xin nước uống, lợi dụng bứt trái đu đủ non, dăm quả ổi xanh, trốn học chấm muối ớt, có đứa táo tợn còn lấy cắp trứng gà, bồng cả gà mẹ. Cô Nền biết nhưng không chửi, không mắng. Được thể bọn trẻ lại làm quá. Cô là đối tượng trong những câu chuyện của đám đàn ông tụ tập khi rỗi rãi. Họ đùa phát vào lưng nhau đôm đốp: "Em Nền ấy à, cứ xuống xề kể lể nỗi bất hạnh là em mềm lòng cho tuốt...". Đàn bà khinh nhờn cô ra mặt. Họ bảo cô đĩ thõa, họ bảo cô khốn nạn. Quanh năm suốt tháng, ngoài lũ học trò chẳng có ai tới nhà cô ban ngày ban mặt.Cô Sửu lay gối bà, than thở, chuyện chú Thao. Bà ngồi lặng im hong tay trên bếp, chẳng ra nghe, chẳng ra không. Mắt bà đục mờ như có phủ sương khói. Bà cười, phô hàm lưỡi trống trơn sóm sém. Lâu bà mới hỏi mẹ: "Thế bao giờ đến giỗ thằng Sơn?". Mẹ dịu mắt, nhắc khẽ: "Chú ấy còn sống, đã về...". à thế..." Mắt bà ánh lên một chút sáng, rất nhỏ, rất mỏng, rồi nguội tắt nhanh chóng, lại chỉ thấy sương khói đục mờ. Mẹ và cô Sửu nhìn nhau, không ai nói.

*
**

Trong hơi may, trên những triền đồi hoang chỉ còn độc mỗi lũ trẻ chăn trâu. Chúng co ro trong áo tơi, da tái xám, giữa lồng lộng gió. Trên muôn triệu lá léc xanh xuyên qua lớp lớp mưa phùn là trong trẻo, là réo rắt, là huyền hoặc tiếng sáo. Chưa bao giờ nỗi niềm da diết đến thế. Không đứa nào lên tiếng. Chúng nắm chặt tay nhau nhìn về hướng ngôi nhà nhỏ bên kia đồi. Phía đó, một làn khói bếp mỏng bay lên, vẽ một đường cong mềm mại, rồi tỏa tỏa vào trong chiều muộn.


Trần Thanh Hà

Lễ vật bên đời

Mùa hạ ở Kon Kring bắt đầu bằng một trận mưa giông xum xuê, sau những tiếng sấm đầu nguồn bạo liệt. Chỉ một trận mưa mà suối khe, các gộp đá tung bọt trắng, tôm càng và cua đá tở mở chào đón cuộc giao hòa dịu mát của đất trời. Út Nhân ban nãy chạy ùa vào rừng thẳm, giờ đột ngột xuất hiện bên kia rặng bồ quân, cười giòn giã:

Tối nay mình chiêu đãi cả làng!

Rồi cô nhanh chóng thả mình xuống làn nước, hai tay vốc lên, mỗi lần năm bảy con cá suối bằng chiếc đầu tăm, lung linh mầu ngũ sắc, cho chúng ríu ran trườn qua vai, ngụp xuống trồi lên như trẻ thơ chơi trò dã tràng xe cát. Cô tiếp tục thả thêm sự sôi động vào gió nước tưng bừng:

Thầy lôi cổ giùm ông Lăng xuống phụ em bắt cá!

Út Nhân vẫn là Út Nhân thời xưa cũ, nét hồn nhiên tinh nghịch không thể nào chìm khuất qua rất nhiều năm tháng. Lăng thì cũng không thay đổi mấy, trừ mái tóc lốm đốm, còn lại là sự đa cảm và rụt rè như hồi chưa vợ, đỏ mặt lúng búng giả vờ không nghe thấy. Ấy vậy mà đã ngót ba mươi mùa hạ đi qua rồi. Hồi ấy, tôi vừa ở rừng về, cấp tốc được phân công phụ trách một phòng trào có cái tên nghe rất oách "Chiến dịch đưa ánh sáng văn hóa về buôn làng”. Tôi tổ chức cho cả thị trấn vận động thanh niên địa phưong có trình độ đi dạy các lớp bình dân học vụ ban đêm trên núi, trong đó Út Nhân và Lăng đứng chân ở Kong Kring xa xôi này. Út Nhân lúc đó vừa sắp tú tài bán, ở Đà Lạt về thăm ngoại, còn Lăng là sinh viên Sài Gòn, nghỉ học từ sau giải phóng. Tôi thao thao bất tuyệt tập huấn cho họ về một số kỹ năng sư phạm, trong đó có một chuyên đề về phong tục tập quán của đồng bào dân tộc thiểu số, để khi dạy học, họ đỡ bỡ ngỡ. Giữa hàng chục người tình nguyện nhận sự điều động, Út Nhân nhìn tôi hơi nghi hoặc có lẽ vì cái bộ dạng tôi có vẻ nửa dân sự nửa quân sự, cả quần áo lẫn tác phong. Tôi bị thuyết phục bởi một tính cách có vẻ cương nghị, hơi thoáng một chút gì u uẩn toát ra từ ánh mắt cô bé, khi cô bạo dạn:

Em đề nghị rằng tối nay đích thân thầy đưa em và anh Lăng vào ra mắt bà con.

Từ thị trấn vào, mất khoảng gần hai chục cây số, già nửa là đường núi gập ghềnh. Khi trèo được qua các bậc đá để đến bờ con suốt này, Lăng ngã vật ra bảo:

Thôi rồi, hai chân đã rụng khỏi người.

Út Nhân đang mệt cũng phải bật cười:

Đến rồi anh Lăng ơi, rụng chân gửi suối giữ giùm.

Xa xa, tiếng chiêng đã nổi lên. Cách một quãng rừng, phía hạ nguồn con suối, bên triền thung lũng, bà con đang chuẩn bị đón các thầy cô giáo.

Cho đến bây giờ, tôi vẫn mường tượng rõ tiếng chào hỏi rộn rịp chân chất của dân làng Kon Kring và cuộc vui ăn cá suối nướng, uống rượu ghè trong nhà rông. Út Nhân và Lăng ban đầu có ngỡ ngàng một tí nhưng rồi nhanh chóng hòa nhập ngay trong các nghi lễ vừa trang nghiêm vừa thân mật của người vùng cao. Nghe bok Đăm mở đầu cuộc hát kể sử thi, tất cả chúng tôi đều rưng rưng hồi hộp với bản khan hơamon về chàng dũng sĩ biết bay, mỗi chớp mắt là một hừng đông, đi cứu người tình bị nạn trong hẻm đá. Tiếng mang tác. Tiếng vượn đầu non kêu lảnh lói. Tất cả dội vào cách đá mờ xa, vừa man dại vừa ấm áp. Trận mưa giữa rừng khuya như tăng thêm vẻ nồng nàn của bếp lửa. Đêm trôi qua, một đêm sau chiến tranh, dào dạt và đa cảm. Tôi rưng rưng nước mắt cảm nhận tất cả nỗi hoan hỉ của sự yên bình, có thể ngửi thấy được, sờ thấy được, từ nụ cười của dân làng dưới mái nhà rông cho đến những âm thanh vừa quen vừa lạ ngoài rừng khuya, cả trên đỉnh nóc trời.

Mùa hạ ấn tượng sẽ lưu lại trong ký ức Út Nhân bao lâu nữa từ cái đêm huyền thoại ấy. Tôi còn nhớ, khi ấy cô bé lóng ngóng cảm động nhón cốm trên tay, đưa lên mũi hít mùi thơm nếp rẫy, mấp môi theo tiếng hát kể của già làng, lúc mãnh liệt hùng tráng, lúc trữ tình trong vắt. Cô đã thức cho đến khi mưa tạnh, vầng trăng đầu tháng nhô lên phía trên vòm cây ké nơi bến nước đầu làng, hoan hỉ đáp ứng tiếng nói trầm trầm của pá Siu, thôn trưởng: "Hôm nay, bà con chơi cho đến sáng". Út Nhân liến thoắng cho nước suối vào ghè rượu rồi bẹo tai Lăng đang ngoẹo cổ ngủ bên gốc cột: “Nam nhi chi chí đừng ngủ khi cuộc vui chưa tan”.

Cứ thế, suốt cả mùa hạ năm 1975 đáng nhớ ấy, mỗi tháng tôi lên làng một vài bận, mang theo ít gạo mắm và sách báo, chứng kiến cả quãng thời gian say mê của Út Nhân với gió suối trăng rừng, với cuộc đi tìm những giá trị mới của bản thân bằng cách "sơn dã hóa nữ sinh đô thị" như tâm sự của cô. Tôi có bụng mừng vì cô tự nhiên như con sóc con nai, vui tươi nhí nhảnh giữa cuộc sống gian khổ và mới lạ. Có lẽ, mỗi ngày trái tim của tuổi trẻ phố phường thêm một lần được thâu nạp những buồn vui của đời sống đại ngàn nên sự linh động vốn có của cô được khắc thêm những đường nét mới. Tôi nhiều lần ngồi với Út Nhân bên bến nước này, lắng nghe những câu chuyện thân tình của một cô gái tuổi trăng tròn, mồ côi mẹ. Một lần, Út Nhân tha thiết:

Giá như thầy là mẹ của em!

Mẹ cô là một đồng nghiệp khả kính hồi tôi còn đi dạy ở Trường Bồ Đề đầu những năm bảy mươi. Chị dạy Triết, tôi dạy Anh Văn, thỉnh thoảng trao đổi cho nhau một vài quyển sách mới, dịch hộ cho nhau vài thuật ngữ chuyên môn. Ba Nhân làm kỹ sư công chánh, bôn ba ở Cao nguyên Trung Phần. Thời chiến, gian nguy khó lường, chị gửi con ở với nội trên Đà Lạt rồi về thị trấn quê nhà dạy trung học. Năm 1972, giải phóng toàn huyện, tôi lên rừng, còn chị thì mất tích trong cuộc di tản.

Tôi hiểu, khi thốt lên những lời như vậy, Út Nhân đã không còn xa lạ với dân trí thức "nhảy núi" chúng tôi. Mới hôm qua, Út Nhân còn nhìn tôi với ánh mắt u ẩn rồi nói thẳng:

Em rất giận ông cậu, làm gì mới tập kết về, cả nhà chưa hết niềm vui sum họp, đã đùng đùng đem cả tủ sách của ngoại ra nộp cho đội du kích phường “chống văn hóa phẩm ru ngủ, phản động, đồi trụy”.

Mấy năm vừa qua, tôi cơ hồ quên với sự bộc bạch kiểu này nên ngượng ngịu dỗ dành:

Em nên thông cảm công cuộc xây dựng cơ ngơi mới còn thiếu kinh nghiệm. Cái gì sai rồi sẽ sửa.

Cô lặng chìm trong dịu dàng xa xôi:

Thầy biết không, khi mẹ em không còn trên đời này nữa, ba năm thì mười họa mới về thăm, em đã sống cùng thế gian này không cô đơn là nhờ tủ sách đó. Đó là Platon, Aristote, Alexandre de Rhodes, Friedrich Hegel, Hemingway… Rồi cả Lão Tử, Trang Tử, Khổng Tử, Bách Gia Chư Tử…

Tôi khẳng định một cách kiên quyết:

Nhất thiết, tất cả kho tàng văn hóa của nhân loại sẽ được tái bản một cách nghiêm túc.

Út Nhân đột nhiên gay gắt:

Nhưng đó là kỷ vật của mẹ em!

Đến đó, Út Nhân ôm vai tôi khóc nấc lên. Lòng tôi chợt dịu đằm lại trong những kỷ niệm xa vời của nhiều năm trước, bên khung trời trường xưa lớp cũ với những đồng nghiệp thân thiết của quãng đời trai trẻ. Quả nhiên, ký ức đã không phụ tôi. Tôi hứa với Út Nhân:

Ngày mai, tôi sẽ cố gắng bù cho em toại nguyện phần nào.

Tôi về thị trấn ngay trong đêm đó, lục tìm quyển "Nghệ thuật thi ca" của Ph. Aristote có chữ ký tặng của mẹ Út Nhân và một cuốn lưu bút bằng bàn tay, có dán ảnh chúng tôi đứng chung trong tập thể hội đồng giáo sư Bồ Đề, giữa vườn dừa, nhân một trại hè. Sáng hôm sau, tôi tức tốc mang vào Kon Kring.

Út Nhân hú gọi Tó, một thanh niên người dân tộc, là học trò tiêu biểu trong lớp bình dân học vụ của cô. Anh đến rất nhanh mang theo một ít gừng tươi giã nhỏ. Út Nhân bảo: "Em sẽ săn sóc cho thầy, chân thầy đã sưng tấy lên kìa!". Tôi ở lại tháng cuối cùng, chứng kiến cảnh những người vài ba chục tuổi, tối tối đốt đuốc lồ ô sáng rực cả một quãng núi, đến nhà rông học tập. Út Nhân cầm tay các mí, các pá, nắn nót những chữ a, b, c… Giọng cô trong trẻo:

Kờ ơ kơ, en nờ I ni, I a ia là nia…, cây kơ-nia ở đầu làng Kon Kring đó!

Tó còn trẻ nên tỏ vẻ lanh lợi, cất lên:

Buổi sáng em lên rẫy, thấy bóng cây kơ-nia, bóng ngả che ngực em, về nhớ anh không ngủ…

Pá Siu vẫn thường ra ngồi đầu hồi hút thuốc, đôn đốc mọi người học, nói vọng lên:

Đề nghị trò Tó giữ nghiêm túc, giữa lớp học không được hát!

Tó bẽn lẽn:

Em xin lỗi cô Nhân, xin lỗi thầy Lăng…

Tó chính là người hằng đêm, sau khi học xong, dịch khan hơamon cho Út Nhân và Lăng. Bản sử thi dài lắm, nghe nói dài từ khi trỉa hạt bắp xuống đất đến khi trổ trái nướng ăn mới hết. Mỗi đêm được bok Đăm già làng hát kể một đoạn.

Bữa cơm trưa ngày cuối cùng, cơm gạo ba-rưng, lúa trỉa, hạt đỏ rưng rức như ngọc châu, xới lên thơm phưng phức ăn với canh cải cay và món rau ranh chấm mắm ruột cá niên. Đây là các món mà Út Nhân thực hiện với sự hợp tác của Tó và Lăng, chiêu đãi tôi, thoạt nhìn đã thấy ngon. Để có bữa cơm này, Út Nhân liến thoắng điều khiển Lăng tíu tít:

Anh bừa củi giúp em! Bửa xong vào nhúm lửa. Bắc ấm nước lên trước bỏ chè tươi nhiều nhiều vô!

Rồi cô rối rít:

Anh lặt rau mang ra suối rửa! Nhớ lên chỗ đầu nguồn, lựa phía con nước chảy mạnh mạnh đó!

Tôi bảo để tôi giúp một tay. Út Nhân cong cớn nhìn về phía Lăng:

Nếu anh có ý định để thầy giáo làm sao không bàn trước một tiếng, em và anh ngồi uống chè với nhau cũng được!

Lăng giấu một nụ cười tồi tội sau ống tay áo gạt mồ hôi, lút cút thực hiện mọi yêu cầu của Út Nhân. Sau hồi lâu suy nghĩ, Lăng mới pha trò:

Thầy đừng mó tay vào kẻo làm hại đến uy tín kẻ sĩ của em!

Thầy biết không, trên này ảnh hết rủa em là nữ quái đến thím ong mật, mợ ve rền! Út Nhân ta thán.

Lăng gắng sức lắm để đáp từ một câu ý nghĩa:

“Con kiến đen huyền bí” có sức mạnh vô biên!

Hết cãi nổi lại chê nhau cái nước da! Trời xanh ơi có thấu lòng kẻ sĩ!

Đến nước này thì Lăng chống chế:

Trong khoa học cũng như trong nghệ thuật, con kiến đen chưa bao giờ thôi được tôn vinh!

Câu thuộc lòng chỉ đáng được điểm năm trừ! Số phận của khoa học cũng như nghệ thuật sẽ đoản mệnh nếu gặp sự lặp lại!

Lăng hình như hiểu được tình thế của mình, len lét đi ra rẫy. Lát sau, anh ta mang về một cây ớt xanh trái đỏ chen nhau, nhẹ nhàng đặt xuống mâm cơm. Tó cũng vừa đến, cõng theo một ghè rượu. Út Nhân đỡ lấy những cần rượu, giúp Tó cắm vào ghe. Cô tinh nghịch trêu:

Kẻ mời rượu cả ghè, người mời ớt cả cây. Sao chưa ai mang cho ta voi chín ngà gà chín cựa, ngựa chín hồng mao…

Thú thật, lúc đó tôi cũng lờ mờ nhận thấy một điều gì bí ẩn, rất khó mô tả giữa những người tuổi trẻ nhưng rồi bữa cơm trở thành mở màn cho cuộc tiễn biệt, thỉnh thoảng một vài người vào vít cần mời nên chìm dần trong hơi men, không còn để ý gì nữa. Từ bữa cơm trưa cho đến chiều tối, lần lượt qua tiếng gọi í ới, người cõng mít, người gùi sắn, người địu rượu về nhà rông. Khi màn đêm buông xuống, tiếng chiêng trống nổi lên tưng bừng và già làng chủ trì môt cuộc chia tay kéo dài cho đến khi tiếng gà rừng gáy trên triền núi Cà Tang. Những vệt mây hửng gấp gấp bay.

Bây giờ, cơn mưa rừng vừa tạnh, tiếng ríu rít của Út Nhân vẫn cứ trong trẻo và vang như thuở nào trên đường xuống bờ đập Hóc Yang. Mỗi bước đi, chúng tôi một ngỡ ngàng với cảnh vật. Làng Kon Kring nồng đượm của chúng tôi giờ chỉ còn vang bóng trên mặt hồ rộng ngờm ngợp với làn nước thẳm xanh như một nỗi đợi chờ hoang hoải. Chúng tôi dừng lại hỏi chuyện một người đang xách súng đi từ dưới thuyền lên, anh cho biết làng đã được di dời mười năm có lẻ, cách đây quãng nửa ngày đường. Thực ra, tôi ở trong tỉnh này cũng có nghe phong thanh việc xây dựng hồ Hóc Yang, nhưng công việc quấn lấy tháng ngày, dễ đã mấy chục năm dư, chưa ai đặt chân về chốn cũ. Vài tiếng chim kêu thảng thốt phía chân mây đang ửng lên bảy sắc cầu vồng, dội lại những âm thanh diệu vợi lan trên những vòng sóng lăn tăn. Út Nhân cất tiếng, không biết nói về tiếng chim hay nói về cảnh huống chúng tôi hiện tại:

Chim phượng hoàng bay đi tìm rừng tùng cổ tích!

Lăng mơ màng:

Chim phượng hoàng?

Đó là một kẻ cho tiếng mà ít cho hình.

Hình như Út Nhân cũng quá trường trải với cuộc đổi thay. Cô bóp trán, mắt nhắm lại giây lát. Mới vừa chớp chớp như sắp sửa khóc, cô đã trấn tĩnh trổ tài điều khiển Lăng như ba mươi năm trước, thuê một chiếc thuyền nan chèo ra giữa dòng. Thấy Út Nhân hý hoáy định buộc thuyền vào một chiếc vó tre cất giữa dòng, Lăng ngửa mặt lên trời buông một lời có cánh:

Bà này đang giải quyết mối quan hệ của hai khái niệm tự do và ràng buộc!

Nhân còn chìm trong hồi tưởng:

Làng cũ ở bên dưới gọng vó này!

Rồi cô ngước lên vầng da chiều đỏ ối:

Chuyện xưa còn mãi trên mây cao! Em không quên được thầy, quên được anh Lăng…

Lăng như sống lại cảnh ngộ ba mươi năm trước:

Và bữa cơm con gái vua Hùng…

Út Nhân vụt miệng:

Không, con kiến đen huyền bí!

Lăng nhanh nhẩu:

Kẻ tiện sĩ xin đa tạ ghi nhận của công nương dù đã quá muộn mằn!

Thời gian không bỏ rơi ai, trừ những người vung vãi nó.

Sau đợt công tác ở Kon Kring, Út Nhân về ở nơi ngoại mấy tuần nữa. Hồi đầu hạ, từ Đà Lạt về, cô đã có ý định hồi hương học tiếp ở trường trung học thị trấn. Thế nhưng, cơ sự lại không được như ý. Sau đợt dạy bình dân học vụ, những tưởng Út Nhân sẽ rất vui vẻ đón chào quãng đời mới tươi đẹp ở quê nhà, nào ngờ tai vạ giáng xuống đầu cô, gây một cú sốc khủng khiếp. Không biết từ đâu xuất hiện một cái tin đồn kín kín hở hở là mẹ Út Nhân bị cách mạng trừng trị năm 1972 vì tội làm thông ngôn cho địch. Cái thị trấn nhỏ như lòng bàn tay bỗng chốc lại nóng lên. Bức xúc quá, tôi hỏi một vài người có trách nhiệm, kẻ bảo ông nọ bà kia của ta đã xác nhận, người nói một cách bí hiểm rằng có hồ sơ lưu của Mỹ nguỵ. Vì tương lai của Út Nhân, chính tôi đã viết một bức thư hết sức tỉ mỉ gửi cho huyện trình bày về nhân thân của mẹ Út Nhân. Thư tôi biết khoảng năm trang giấy, ngoài những ấn tượng đẹp với người đồng nghiệp cũ, trong đó có kể về cuộc giao thiệp với bọn Mỹ để thả những lương dân, chúng chở về bằng trực thăng nhốt ở chi khu, sau đợt càn quét vùng giáp ranh. Tôi bảo do chính tôi đã chủ trương việc này, vì hồi ấy chỉ có tôi và mẹ Út Nhân là người địa phương thông thạo Anh ngữ, công khai kiến nghị với bọn chỉ huy Mỹ. Sự thực thì công việc ấy mang lại kết quả, có lợi cho cách mạng vì toàn bộ những đồng bào cơ sở đã được phóng thích. Tôi đã từng báo cáo việc này cho ông bác của Lăng, lúc ấy là cơ sở đầu mối các hoạt động ở thị trấn. Còn việc mẹ Út Nhân mất tích năm 1972 thì không dính dáng gì đến việc trước. Cuộc chiến tranh khủng khiếp luôn có những ngẫu hứng tàn bạo trên mọi số phận con người.

Phải nói, trong đời sống có những việc thật không lường hết được. Tôi gấp rút được cử đi học một khóa bồi dưỡng cán bộ quản lý dài hạn ngoài Hà Nội. Nếu đàng hoàng ra, tiêu chuẩn đi học là của cốt cán chứ tôi có nằm mơ cũng vài ba năm nữa mới tới lượt. Nhưng chẳng hiểu sao, ban tổ chức huyện đánh quyết định gấp rút dành cho tôi. Trước khi đi, ông bác của Lăng có gặp tôi thật hớn hở: “Chúc đồng chí có nhiều tiến bộ sau này về góp phần xây dựng quê hương". Rồi ông cười nụ cười thật khó hiểu.

Tôi còn nhớ thời gian đó, Lăng bươn bả đi tìm Út Nhân trên Đà Lạt nhưng không gặp được. Nghe nói, Nhân đã chuyển vào đồng bằng sông Cửu Long với ba. Trên đường về, Lăng có gặp tôi, than thở. Tôi hết sức bất ngờ và chắp nối các mẩu chuyện lại với nhau. Tôi khuyên Lăng thôi thì tìm cách nối lại sự học bị đứt đoạn, các chuyện khác cứ từ từ, thời gian sẽ trả lời cho mọi nỗ lực.

Trên đường lên tàu ra Bắc, tôi đã lờ mờ nhận thấy uẩn khúc của câu chuyện hình như có một rắp tâm nào đó, từ ông bác của Lăng. Tôi nghiệm ra rằng mọi sự nhiêu khê, từ vụ phao tin đồn nhàm đến việc ly gián tôi một thời gian, tất cả đều nảy sinh từ chuyện ai đó kiên quyết không để Lăng giao thiệp với Út Nhân, thế thôi. Tôi đã có ý định một lúc nào đó, gặp lại cả Lăng và Út Nhân, sẽ nói với hai người những lời có ý nghĩa và tích cực hơn đối với đời sống của họ. Nhưng rồi cuộc sống xô đẩy chúng tôi ra ba chân trời xa lạ, những người bạn mới, môi trường mới, tương lai mới. Quê hương nằm trong ký ức như một mảnh trăng đầy, lặng lẽ sáng ở những góc sâu kỷ niệm. Tôi về tỉnh. Lăng thì bỏ ý định ở lại thị trấn xin việc, tiếp tục tìm đường nối lại mộng ước khoa học, tốt nghiệp ở lại giảng dạy ở một trường đại học tỉnh bạn. Còn Út Nhân thì biệt vô âm tín. Sau đó, chúng tôi được nghe danh cô trên báo, sang làm nghiên cứu sinh bên Pháp, trở thành nhà khoa học về năng lượng mặt trời. Thế là lặng lẽ mừng.

Lăng bộc bạch như trong mơ:

Thực ra, tôi chỉ là mẫu người tận tụy mà Nhân lại hết sức lãng mạn…

Nói thật với thầy và anh Lăng, không lãng mạn được thì em chết mất.

Lăng như tự vấn:

Cả một lề thói cũ tưởng trôi theo rêu rác, lại núp bóng cái mới úp chụp xuống đầu em.

Tôi đồng tình:

Gọi là gì nhỉ? Nhân danh… Ờ, nhân danh cái này, cái nọ để làm điều khuất tất thì thời nào cũng có. Nhưng các em ơi, dẫu sao chúng ta cũng phải…

Cảm ơn ngàn lần quê hương đã rèn luyện cho em và ông Lăng biết đứng dậy mà đi- Nhân tiếp lời tôi như một hồi chuông - Ở một ngôi làng nhỏ, em đã tiếp nhận những bài học lớn.

Lăng cười thành tiếng:

Đi một mạch ba mươi năm ta gặp lại mình!

Cuộc gặp gỡ của chúng tôi là do Út Nhân chủ động đứng ra tổ chức. Nhân huyện mời đại biểu là các nhà khoa học con em địa phương về hội thảo "quê hương trên đường phát triển”, Út Nhân về thăm quê với dự án lắp thiết bị dùng điện năng lượng mặt trời cho bà con dân tộc. Còn Lăng thì dự định giúp cho việc đào tạo con em miền núi về công nghệ thông tin. Út Nhân và Lăng gặp nhau trên tỉnh, cả hai tung tăng đến thăm tôi. Tôi chưa hết ngỡ ngàng trước cuộc trùng phùng thì Út Nhân đề nghị trước khi về huyện, chúng tôi phải hành hương về Kon Kring, coi như ôn lại kỷ niệm cũ.

Út Nhân trên bốn mươi mà vẫn trẻ trung, linh hoạt, tự lái chiếc Mercedes đen bóng đưa chúng tôi đi. Thấy hai bạn trẻ, bạn nào cũng chững chạc, tự tin, đầy sức sống, tôi mừng cho người quê nhà thành đạt nơi xa xứ. Sớm nay, Lăng đã trêu Út Nhân:

Hồi bà lấy tôi thì chỉ chồng cán bộ xã, vợ nội trợ.

Út Nhân bảo Lăng:

Đằng nào cũng nên về viếng mộ ông bác của anh.

Rồi cô nói với tôi:

Thầy còn nhớ thầy đã cho em kỷ vật của mẹ em. Bao nhiêu ngày trong rừng, em và anh Lăng cố gắng tìm hiểu những nguyên lý cao xa của những khái niệm mỗi đời người.

Cô tiếp tục hồi tưởng:

Ở Kon Kring, chúng em còn học được những phép lạ của đời sống. Em và anh Lăng đã từng nhặt mỗi người một hòn sỏi trắng bên suối làm kỷ niệm. Em đã giữ đến bây giờ, mỗi khi thiếu dũng khí, em đã bóp chặt nó trong lòng tay.

Tôi vụt miệng:

Không có những kỷ niệm giản đơn như vậy, làm sao Út Nhân đam mê lấy lửa từ mặt trời.

Chúng tôi thanh thản ngắm những làn mây trắng sà vào lòng hồ Hóc Yang. Hình như sự yên lặng dịu dàng đã kết nối chúng tôi với trời và đất.


Nguyễn Thanh Mừng

Phóng sự đầu tay

Bích Huệ lại vượt qua một kỳ thi mới. Bài viết của cô được đồng nghiệp và bạn đọc đánh giá cao. Chỉ khi nhìn thấy phóng sự của mình trên mặt báo, cô mới tin đó là sự thật.

Bởi sau đợt công tác mười ngày ở Tây Nguyên trở về, nộp bài cho Tổng biên tập đã hơn nửa tháng mà không thấy ông gọi lên làm việc. Thi thoảng gặp ông ở hành lang, chỉ thấy ông nở một nụ cười bí hiểm....

Được về làm việc ở một tờ báo nổi tiếng cả nước, cô thấy mình như đang trong mơ. Tuy vậy, đối với một phóng viên chính, không vinh dự nào không đi kèm với âu lo. Cô được phân công chuyên về phóng sự. Ngẫm cho kỹ, thể loại này viết cho hay, chẳng dễ gì.

Thế là kỳ thi đầu tiên trong đời làm phóng viên đã qua. Một kỳ thi đầy căng thẳng và bất ngờ. Căng thẳng hơn nhiều so với kỳ thi tốt nghiệp đại học báo chí cách đây hai tháng. Căng thẳng vì cô không hiểu hết những lời dặn dò vừa nghiêm túc, vừa hài hước của Tổng biên tập trước lúc cô lên đường. Căng thẳng vì cô đã có đủ can đảm để vượt lên chính mình. Bất ngờ vì có những việc tưởng như không bao giờ xảy ra mà vẫn cứ đến.

Vẫn biết con đường làm phóng viên còn lắm chông gai nhưng với kết quả đầu tiên như thế, có thể xem như tạm được. Cô chọn tôi là người đầu tiên để chia sẻ niềm vui...

Chúng tôi cùng đi trên tàu S5 nhưng khác toa. Tàu đến thị xã Tuy Hoà lúc đầu chiều. Khách xuống ga lẻ này không nhiều. Lần đầu tiên xa Hà Nội hơn một nghìn cây số, lại là nữ cả nên chúng tôi nhanh chóng làm quen với nhau. Trời còn sớm nên chúng tôi quyết định lên xe đò đi tiếp về phía Tây, đến nơi tổ chức Hội nghị toàn quốc về bảo vệ rừng. Từ Bắc đến Nam, rừng đang khắc khoải...

Như thường lệ, trong hội nghị có những báo cáo điển hình. Dĩ nhiên là điển hình tốt. Nhiều người lên bục nói về thành tích của đơn vị mình. Những điển hình ấy là có thật. Huệ và tôi không chút hoài nghi. Điển hình xấu thì không ai đứng ra tự nhận... Chỉ phản ánh vài câu trong báo cáo chung. Cô phóng viên hai mươi hai tuổi này đề nghị bổ sung vào chương trình hội nghị một báo cáo chi tiết về một điển hình xấu. Hội nghị đồng tình và cử ngay một đoàn công tác đến tận nơi tàn phá rừng không thương tiếc. Tham gia đoàn có một giáo sư lâm nghiệp, một tiến sĩ khoa thổ nhưỡng, một người địa phương dẫn đường, Huệ và tôi. Thế là chúng tôi lại lên đường.

Xe lên tới đỉnh một ngọn đồi. Chúng tôi loá mắt vì màu đỏ của đất bazan như một vết thương khổng lồ đang rỉ máu. Những cây gỗ quý hai người ôm đổ ngổn ngang. Khói bụi bốc lên từ hàng chục đám cháy. Nói không ngoa, đạo diễn điện ảnh có thể tiết kiệm kinh phí, không cần dựng cảnh khói lửa để quay những bộ phim truyện chiến tranh. Dòng chảy bề mặt do những cơn mưa rào xói mòn tạo nên những rãnh sâu chỉ còn thấy lớp đá phong hoá. Những chỗ rừng cạo trọc đã trồng cây vừng vốn dễ tính đã đến kỳ trổ hoa, cũng chỉ cao chừng... một gang tay. Cây hổ ngươi và cỏ tranh mọc cao ngang tầm người lớn.

Giáo sư lâm nghiệp lắc đầu. Tiến sĩ thổ nhưỡng đăm chiêu. Người dẫn đường thì nói, ông đã không tán thành việc cho công ty tư nhân thuê đất trồng cây làm nguyên liệu sản xuất giấy bằng cách phá rừng vô tội vạ như thế này. Bích Huệ không nhận xét một lời. Cô chỉ chăm chú ghi chép... Sau này, trên đường trở về Hà Nội, tôi có dịp được xem sổ tay của cô. Tôi đã hình dung một phóng sự đầy sức thuyết phục. Những kiến thức cơ bản về môn lâm sinh, môn thổ nhưỡng, chuyên đề môi trường, xói mòn trên đất dốc, đặc thù khí hậu nhiệt đới ẩm, tác động tiêu cực của El Nino, La Nina, những kinh nghiệm thất bại do quảng canh của xã hội loài người mà thế giới đã báo động cách đây hàng chục năm, những chủ trương lớn của Nhà nước về bảo vệ rừng, những sơ hở trong các văn bản luật và pháp lệnh có liên quan... cùng một dàn bài chi tiết cho phóng sự cô sẽ viết.

Đích thân nữ giám đốc tiếp chúng tôi. Cũng là nữ nhưng Huệ và tôi không đoán được tuổi bà. Có thể mới ngoài ba mươi, cũng có thể đã quá bốn mươi. Chỉ khẳng định được, bà biết sử dụng đồng tiền qua cách xưng hô với những nhân viên dưới quyền.

Những câu chào hỏi ban đầu ở đâu cũng đậm màu thắm thiết. Cách tiếp đãi cũng tuân theo những ước lệ. Nơi rừng núi âm u này mà vẫn có đủ tất cả. Bia ngoại, nước suối Lavie, cà phê Arabica nguyên chất, bánh gatô phủ kem...

Bà đưa chúng tôi đi tham quan, bà thuyết minh thành thạo như chúng tôi đã từng nghe trong các triển lãm. Tôi rỉ tai Huệ: "Chắc là đã có nhiều đoàn tới đây tham quan thì phải?". Huệ không tỏ một cử chỉ tán thành hoặc phản đối. Cô chỉ cho tôi biết lý do của sự im lặng này lúc lên xe trở về hội nghị, khi đã có thể tin vào nhân cách của những người cùng đi. Thì ra chỉ một nụ cười, một cái gật đầu, một lời tán thành với đồng nghiệp, một nét nhăn mặt vô tình... không vừa lòng chủ, có thể mang lại cho phóng viên một sự hiểu lầm, thậm chí xuyên tạc không nên có.

Cuộc đối thoại trong quá trình tham quan đa dạng và phong phú, tôi không thể kể hết. Những vấn đề ấy đã phản ánh khá đầy đủ trong phóng sự đầu tay của Huệ sau này. Tôi chỉ nhớ tới những thái độ tự tin quá mức của bà giám đốc khi trả lời ông giáo sư và ông tiến sĩ. Chẳng những đã sai về khoa học lại còn vô lễ đối với người lớn tuổi và nhiều chữ hơn mình. Những hiện tượng ấy, Huệ cũng không quên thể hiện trong phóng sự.

Biết Huệ là phóng viên một tờ báo có uy tín, bà giám đốc công ty ngỏ ý mời riêng cô ở lại để viết về công ty của bà. Chỉ một tối thôi! Sáng sớm ngày mai, bà sẽ cho xe con đưa về tận hội trường. Huệ đã khéo léo chối từ. Cô lấy lý do cần tranh thủ đến thăm bạn cũ đang công tác tại thị xã đã nhiều năm chưa gặp lại...

Để chia vui với Huệ, tôi mời cô ở lại ăn cơm. Chồng tôi và các con về quê nên hai chị em có thể chuyện trò thoải mái. Bây giờ, tôi mới có dịp ngắm kỹ người phóng viên trẻ tuổi này. Phải nói là Huệ không đẹp sắc sảo nhưng có duyên. Đôi chân thon và thẳng, mặc váy ngắn phải nói là rất đẹp. Thế mà bốn ngày hội nghị, cô không mặc lần nào! Cô nói, chỉ mặc váy ngắn những lúc có thể mặc. Hội nghị trang nghiêm hoặc lúc phỏng vấn các vị lãnh đạo, những người lớn tuổi... cô chỉ mặc áo dài. Hoàn toàn không phải là chuyện bề ngoài. Theo cô, trang phục thể hiện tư cách một con người. Trang phục phù hợp, màu sắc không loè loẹt làm cho người khác kính trọng mình, tin mình, không dè dặt với mình thì thông tin thu được mới phong phú và trung thực.

Cô thừa biết nghề phóng viên muốn làm giàu không phải là khó. Một bài báo "vẽ rắn thêm chân" hoặc "biến đen thành trắng"... sẽ mang lại cho cô những "phong bì" dày cộp. Nhưng nếu như vậy thì cái vũ khí mà mình có vinh dự được thời đại trao cho, không những đã phản lại nhân dân mà còn làm ô uế cả chính mình. Cô sớm biết chắt chiu những nét đẹp truyền thống của tổ phụ, mà theo cô, vẫn rất cần trong xã hội ngày nay.

Tôi ngỏ lời khen Huệ. Cô ngượng nghịu.

Cuối cùng, ông Tổng biên tập cũng đã gặp cô. Thay cho lời khen, ông cho cô biết, ông đã không thêm bớt một từ nào trong bài phóng sự.


Đan Hòa

Khúc dân ca miền biển

Anh thường kể những chuyện gắn bó với một dòng sông.

- Sương biết không, chính trên cánh đồng ven đê, khi đào mương, bọn anh đã vớ được những cây gỗ lim vót nhọn đầu, những nhà khảo cổ xác nhận đó chính là chiếc cọc xưa Trần Hưng Đạo đã dùng đâm bể những chiếc thuyền của quân Nguyên...

- Trời! Phải chi em được ra quê anh một lần!

- Chắc có ngày ấy thôi. Chỉ e... em không có lòng.

Câu nói rụt rè và như thể bâng quơ ấy cứ rung mãi trong tâm hồn cô. Anh không sôi nổi, có duyên như anh Phương quê Hà Nội, anh cũng không tốt giọng để hát những làn điệu chèo uyển chuyển và tình tứ như anh Nhữ tóc xoăn quê Thái Bình... Anh chỉ có những câu chuyện. Vậy mà dư âm của nó cứ làm Sương bâng khuâng.

Ra ở đâu cũng vậy thôi - cũng sông nước, cũng ruộng đồng, cũng cấy cày, gặt hái, cũng những xóm thôn... Đất nước hiện lên trước hết từ một xã Tăng Hòa chôn rau cắt rốn của cô tới một miền xa lắc, nơi có tiếng kẻng gọi người mỗi sớm mai ra đồng, nơi ngày mùa lúa chất đống ở những sân kho, và có những ngày hội cổ truyền... Ôi, phải chi, phải chi...

Năm ấy Sương mời sáu tuổi.

Sương được các anh đưa lên khu học văn hóa, rồi theo học lớp y tá ngắn ngày. Xong cô được điều về ở huyện đội.

Các anh ấy đến cơ quan huyện đội từ lúc nào lặng lẽ và khiêm nhường. Ngày ấy cực lắm. Miền Tây Nam Bộ là vựa gạo, nhưng hạt gạo từ vùng dân ra "cứ" nhiều phen thấm máu. Đêm đêm, các anh đi. Đi đâu, làm gì, chỉ ban chỉ huy và các anh hay. Vất vả thế, sáng về, khi có vài chén cơm, khi một phong lương khô, cũng có khi chỉ cháo loãng. Chú huyện đội trưởng bảo Sương:

- Cháu phải chăm sóc những chàng Yết Kiêu này thật chu đáo, nghe!

- Yết Kiêu là chi chú? - Sương ngây thơ hỏi.

- à Yết Kiêu là... là những người bơi lặn giỏi, làm nổi những công việc lớn - Chú cười, tiếng cười thật vui, hồ hởi và tin cậy.

Sương không biết nói gì thêm. Cô cố gắng chăm sóc các anh chu đáo như lời dặn dò của người chỉ huy. Cô kiểm tra mùng khi các anh đã ngủ, ép các anh uống hết liều thuốc phòng sốt rét, la những ai vô ý có thể làm các anh thức giấc... và Sương lặn lội tìm hái quả mắm mang về luộc, bắt cáy nấu canh với lá rừng, cải thiện bữa ăn.

Chiều ấy khi nước đã lùi xa về biển, Sương vừa lội xuống bãi, bỗng nghe tiếng gọi phía sau. Cô giật mình ngoái lại:

- Trời, anh Hải! Anh làm em... Sao anh không chịu ngủ?

- Bụng lép kẹp, ngủ nghê sao được!

Anh ngoẹo cổ, mắt nheo nheo nh thể khôi hài, nhưng Sương chợt nghe buốt nhói trong ngực. Cô nhận ra gương mặt hốc hác và tái sạm của người chiến sĩ với bao thiếu thốn anh đã phải chịu đựng.

- Bữa nay Sương cho tôi cộng tác với.

Anh vừa nói vừa cúi xuống vuốt nhanh hai ống quần.

- Con trai miền Bắc hổng quen việc mò cua bắt ốc đâu anh ơi!

Sương vội ngăn, nhưng anh đã hăm hở sục chân xuống bùn. Đôi mắt dài thường tít lại mỗi khi vui cười, lập tức trở nên tinh nhanh trước những vật chấm li ti trên mặt bãi. Phút sau anh cúi xuống túm gọn một lúc hai con cua bên gốc cây trang.

- Đây rồi!

Anh cười hồn nhiên quá. Sương càng ngạc nhiên. Đôi bàn chân to khỏe của anh bước trên bãi hà táo bạo và nhanh nhẹn như người ta đi trên đường phẳng. Giữa vô vàn những miệng lỗ dày đặc, anh gọi ra đâu là lỗ còng lỗ cáy, đâu là hang ổ của nhệnh, của hớp.

- Sương biết không, bãi sông quê tôi cũng nhiều cá lắm. Mùa này tôi thường đi bẫy nác. Những chiếc bẫy làm bằng tre giương trên miệng lỗ. Những chú cá nác nhắm tít mắt, vừa ngoi lên vừa lắc lắc cái đầu rũ bùn. Pựt! Thế là cu cậu bị chặn cổ. Chà, cá nác nấu với dọc mùng! Sương biết dọc mùng không?

Vừa nhẹn tay xắn đất chặn bắt những chú cá thòi loi, anh vừa say sưa kể chuyện. Chưa bao giờ Sương thấy anh vui thế, cởi mở thế. Cô mải nghe, cứ xách giỏ theo anh lúc nào không hay. Những kỷ niệm về anh sao đằm thắm thế. Sao anh có thể nói về quê hương mình hay đến vậy, dù khi anh chỉ nhắc tới một buổi đi kiếm mật ong giữa rừng nước mặn, một buổi tối bạn bè rủ nhau đi chao cá tối ven sông, hay một mùi thơm của quả lậu chín vào hồi tháng bảy...

*
* *

Giờ đây, trước mặt Sương, con sông Bạch Đằng cồn lên những đợt sóng bạc đầu. Con sông quê anh. Con sông trong những chuyện anh kể... Khu rừng lậu ven đê mới bắt đầu đâm chồi sau những ngày rét mướt, những hơng hoa sú đã ngọt lịm trong gió đông. Và lúc này, con sông mênh mang hơn nhiều, sôi động hơn nhiều trong trí tưởng tượng của cô, những con tàu lừng lững. Những đoàn sà lan nối dài và buồm nâu rườm rợp. Dòng sông huyên náo trong tiếng còi xin luồng, tiếng động cơ, tiếng những ngọn sóng chồm lên bị chẻ xé, bị khuấy sôi. Không xa nơi Sương đứng là xưởng sửa chữa tàu thủy đang ầm ầm những âm thanh hỗn độn, chói gắt ánh lửa hàn. Xa hơn, một dải khói xanh đục bí ẩn tuôn lên từ trong khe núi.

- Đấy là nhà máy đất đèn, một cơ sở hóa chất mới xây dựng. Nghe nói đất đèn của ta được khách nước ngoài chuộng lắm, nhng không có mà xuất khẩu vì dùng trong nước còn chưa đủ. Hiện nay chúng ta đang tiếp tục xây thêm những lò có công suất cao hơn.

Bé, cô bí thư xã đoàn Ngũ Xã có vóc người chẳng hợp với tên cô chút nào, trân trọng giới thiệu cùng đoàn khách từ miền Tây Nam Bộ xa xôi tới đây tham quan. Nhiều cặp mắt mở to trước cô, không chỉ thông thạo công việc đồng áng, mà còn tỏ ra am hiểu tình hình trong vùng.

Sương không chen hỏi về khu cảng than, về vùng đồi thông xanh hút tầm mắt phía bên kia sông. Cô lặng ngắm dải sóng trắng xóa chảy suốt sát chân đê ra quá giữa sông, một đàn hải âu đông ngộn đang nhộn nhạo, đang sắp vụt tóa lên khỏi mặt nước. Ban nãy Bé giới thiệu đấy là Ghềnh Cốc - một bãi đá ngầm. Nơi đây bảy thế kỷ trước, quan quân nhà Trần đã lợi dụng nó như một bãi cọc trong trận thủy chiến lừng lẫy tiêu diệt quân xâm lược. Giữa tiếng ồn ào của biển lớn ngoài kia đang lúc triều lên, tiếng nổ rền của những loạt mìn phá đá phía thượng nguồn, nỗi bồn chồn vẫn không lắng lại trong lòng Sương. Cô kín đáo nhìn nhanh gương mặt cô bí thư xã đoàn. Bé nghiêng nghiêng đầu đưa tay cài gọn lại mái tóc. Chiếc áo cộc cổ màu gụ rất vừa vặn, hài hòa với nước da nâu mịn của cô gái miền duyên hải. Vẻ đẹp riêng biệt của cô gái ấy giữa đám đông khiến Sương liên tưởng với cô gái trong những câu chuyện anh Hải kể hồi nào. Và cô xúc động nghĩ rằng mình đã đoán không nhầm. Giữa lúc ấy Bé chợt nở nụ cười duyên dáng, chỉ tay xuống khoảng đất trước mặt mọi người:

- Báo cáo các đồng chí, đây là trận địa súng máy cao xạ của dân quân xã chúng tôi trong thời kỳ chống chiến tranh phá hoại. Anh chị em đã diệt hai máy bay phản lực Mỹ, một chiếc đâm đầu ngay xuống cuối Ghềnh Cốc kia, một chiếc cố bơn ra được đến cửa Nam Triệu...

Tất cả cùng "ồ" lên một tiếng thán phục, và ai nấy cùng nhìn vội xuống cái nơi bây giờ chỉ là một màu xanh nhu mì những vạt ngô.

Từ bấy giờ cho hết buổi tham quan là những câu hỏi dồn dập về chiến thuật, về kiểu loại những chiếc máy bay giặc phải đền tội, về cấp bậc, quê quán thằng giặc lái bị bắt sống... Riêng những câu hỏi về người chỉ huy trung đội dân quân hồi ấy, Bé chỉ trả lời qua loa đó là một đồng chí gái, nhưng hai vành tai cô thì cứ đỏ tía lên. Mỗi lúc Sương một náo nức, cô phải cố ghìm câu hỏi riêng của mình trên đường về làng, chờ lúc Bé hơi lùi về phía sau, Sương bước lại gần. Và như hụt hơi vì hồi hộp, Sương hỏi:

- Cô... cô có biết nhà anh Hải?

- Anh Hải? - Bé dừng bước, ngước cặp mắt trong suốt nhìn Sương, hàng lông mày cong cong rớn xếch lên vùng trán có nếp nhăn đột nhiên:

- Chị quen anh Hải?

- Phải chị quen - Sương cảm giác tiếng nói mình nhỏ quá.

- Trời ơi! Anh trai em đấy.

Bé reo to, bàn tay bá lên vài Sương, lắc mạnh.

Sương thấy tức thở:

- Anh Hải... Anh Hải bộ đội, cô à.

- Đúng rồi, anh Hải em đi bộ đội, vào Nam chiến đấu gần mười năm, vừa rồi mới ra nghỉ phép. Tiếc quá! Anh em vừa lên đường hôm qua.

Bé càng sôi nổi và như những cô em gái khác, phát hiện điều bí mật ở anh trai, đôi mắt cô càng rực lên vẻ thích thú.

- Không... Không... - Tiếng Sương đứt quãng - ở vùng trong chị trước đây có anh tên là Hải đến hoạt động một thời gian. ảnh bảo quê ảnh ở ven sông Bạch Đằng này. Mà anh hy sinh rồi, Bé ơi!

Sương nói nhanh câu cuối và lại thấy nóng rực hai mi mắt. Cô vội ngoảnh nhìn ra cánh đồng. Cánh đồng như thể bồng bềnh trước mặt. Và lúa, lúa đang thì con gái ràn rạt xô cái màu xanh ngút ngát tới chân đê, với những tia nắng vàng rực cứ rung rinh, rung rinh.

- Thế thì anh ấy không ở xã em. Xã em có bốn anh Hải đi bộ đội, đều đã về cả. Chắc anh ấy ở xã khác. Chị xem, dọc hai bờ sông có bao nhiêu là làng mạc thế kia...

Sương nín lặng. Con bói cá đậu trên đường dây cao thế đang thu mình bỗng giật mình bay đi, tiếng "các các" xa dần về phía rừng rậm.

Buổi tối, đoàn khách tham quan được mời xem vở chèo do đội văn nghệ xã tự biên tự diễn. Vở chèo nói về công cuộc khai hoang lấn biển. Bây giờ, Bé trở thành cô dân công có nhiều sáng kiến trên công trường. Cô lưu luyến tiễn dặn người yêu lên đường chiến đấu sau bao ngày cùng nhau đắp đê, nhổ sú...

"Rủ là - rủ nhau ới là xuống biển...

Lời ca ấy cùng làn điệu dân ca ấy Sương mới nghe lần đầu. Và rõ ràng tích chèo chỉ nói về những người sản xuất, vậy mà Sương không cầm nổi nước mắt. Chao ơi, có lẽ nào, chính tâm hồn của anh, tâm tình của mình, giờ mới được gọi ra, được cất lên bằng một giai điệu tuyệt vời đến thế!

"Rủ nhau xuống biển mò cua

"Đem về nấu quả mơ chua trên rừng

"Anh ơi gian khổ đã từng

"Non xanh nước biếc ta đừng quên nhau...

Chiều ấy nắng cũng vàng như nắng chiều nay giữa đồng làng Ngũ Xã.

"Đêm nay xong việc, ngày mai ta lại đi lên bãi nghe Sương".

Lần đầu tiên anh kín đáo nói với Sương bằng giọng Nam Bộ. Rồi chia tay. Ba người, mỗi người một ba-lô thuốc nổ, đi theo con đường mòn dẫn ra phía bờ sông. Ngày hôm sau anh không về đúng hẹn. Chỉ biết chiếc cầu trên tỉnh bị đánh sập, giặc đang lồng lên, đang chặn bủa các ngả sông, các ngả đường. Hôm sau nữa các anh vẫn không về tin được phổ biến chính thức trong cơ quan: trên đường rút ra, các anh sa vào ổ phục kích của giặc. Và sự im lặng kéo dài sau đó báo với Sương rằng anh và đồng đội anh đã hy sinh.

Sương đang sống những ngày cuối cùng ở miền bắc. Hà Nội mùa hè trời trong vắt, hồ trong vắt. Đi dưới những hàng sấu um tùm lá biếc, Sương bồi hồi nhớ những hàng me quê nhà. Chương trình rút ngắn, chỉ còn ít bữa nữa Sương đã phải về với làng quê phương nam, lại đi dưới những hàng cây quen thuộc ấy, lại thích thú để mặc những cánh hoa vàng nhỏ xíu trút xuống đậu trên mái tóc. Và những bãi triều đất bồi ra bao la ven sông mỗi khi nước xuống. Những bãi triều năm xa hai người vẫn đi qua...

- Chị để lại địa chỉ cho em. Có thể em sẽ hỏi bạn bè ở những xã bên, chắc em tìm được gia đình anh ấy...

Lúc chia tay, Bé hẹn vậy.

Nhưng sao mãi hôm nay Sương vẫn chưa thấy thư báo của Bé gửi tới. Giữa tiếng ve ran ran, Sương bỗng gặp mình đang hát. Và lạ lùng thay, tiếng hát lại có thể hay như vậy, luyến láy đúng như vậy, với một làn điệu dân ca mới được nghe lần đầu.

"Rủ là rủ nhau ới là xuống biển...".


Chu Văn Mười